|
V̀ MỤC ĐÍCH PHÁT TRIỂN CHUYÊN NGÀNH TÂM LƯ TRỊ LIỆU TẠI VIỆT NAM |
||
|
GIỚI THIỆU
Tác giả Dành cho thân chỦ
Thư gửi quư độc giả BÀI VIẾT
Chuyên đề GIÁO TR̀NH - TÀI LIỆU Đề cương
Học phần đại cương Tài liệu
Bài giảng tâm lư trị liệu
|
www.tamlytrilieu.com Bài tham luận Hội thảo Tâm lư tại Đồng Nai 7-5-2011
GIA Đ̀NH CÓ CON VỊ THÀNH NIÊN
BCV: BS. NGUYỄN MINH TIẾN
ICT – CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
Có một tiên đề (axiom) rằng: “Con người không thể sống mà không giao tiếp”. Khoa học về truyền thông – giao tiếp hiện đại thừa nhận rằng con người không thể sống mà không trao đổi thông tin; không giao tiếp cũng là một cách giao tiếp. Thậm chí đến mức mỗi hành vi của con người cũng có thể đưọc xem như một thông điệp chứa đựng ư nghĩa. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT: Information Communication Technology) cùng sự ứng dụng lan rộng đến mức toàn cầu của các phương tiện này đă tạo nên những tác động lớn đến mức chúng có thể có ảnh hưởng và gây nên những thay đổi trong đời sống của loài người từ mức vĩ mô trên b́nh diện xă hội cho đến các sinh hoạt thường ngày của các cá nhân và gia đ́nh. Công nghệ mới cho phép con người có khả năng tái sinh vô số các thông điệp, lưu lại được những điều con người không thể ghi nhớ hết và truyền các thông điệp đi rất nhanh, rất xa đến mức các khoảng cách không gian và thời gian trở nên không c̣n ư nghĩa nữa. Internet và các phương tiện truyền thông đại chúng (mass media) đang dần dần gây ảnh hưởng và làm biến đổi những phương thức giao tiếp trực tiếp theo kiểu truyền thống giữa người với người. Đă bắt đầu có những nghiên cứu về ảnh hưởng của một xă hội thông tin lên đời sống cảm xúc và những mối quan hệ của con người, nhưng vẫn chưa có nhiều những hiểu biết đầy đủ về ảnh hưởng mà những công nghệ mới ấy có thể gây ra trên sự phát triển của trẻ em và vị thành niên. ICT liệu sẽ mang lại những lợi ích ǵ và những nguy cơ ǵ cho đời sống tương lai của những đối tượng nhậy cảm ấy?
GIA Đ̀NH CÓ CON VỊ THÀNH NIÊN
Nói đến tuổi vị thành niên (VTN) là nói đến một giai đoạn có tính “bản lề” của một đời người – giai đoạn “sang trang” chuyển một người “từ chỗ là một thành viên của gia đ́nh sang vị trí là một thành phần của nhóm và xă hội” (Mabey & Sorenson). Người viết dùng cách nói “người VTN” thay cho cách thông thường hay dùng là “trẻ VTN”, để nhấn mạnh các đặc trưng riêng biệt của lứa tuổi này, v́ tuổi VTN tuy chưa là người lớn nhưng cũng không c̣n là trẻ em.
Gia đ́nh có con ở tuổi VTN phải trải qua một giai đoạn có nhiều thách thức. Đă có nhiều nghiên cứu sâu và rộng liên quan đến chủ đề này. Trong khuôn khổ bài tham luận, người viết chỉ xin nêu vài ư sau:
(1)
Hệ thống gia đ́nh phải “mở cửa” để giao lưu với các giá trị
mới: Trong các gia đ́nh mới tạo lập chưa có con và gia đ́nh trong
giai đoạn có con c̣n nhỏ, các thành viên thường có sự gia tăng gắn bó và
ít nhiều cố gắng phát huy các thế mạnh từ những giá trị truyền thống,
những giá trị mà bố mẹ được thừa hưởng từ gia đ́nh nội và ngoại. Trái
lại, gia đ́nh có con đến tuổi VTN thường phải thay đổi theo chiều hướng
ngày một cởi mở hơn, linh hoạt hơn để tiếp tục phát triển và thích nghi
với môi trường xă hội vẫn luôn chuyển đổi không ngừng ở bên ngoài. Người
VTN ngày càng trở nên độc lập hơn với bố mẹ, có thể tự do hơn trong việc
“đi đi, về về”, mở dần lớp vỏ bảo bọc và kiểm soát của gia đ́nh và hướng
dần đến đời sống tự lập hơn sau này. Hoàn cảnh ấy dẫn đến sự giao lưu
tất yếu giữa các giá trị vốn quen thuộc bên trong gia đ́nh và những giá
trị mới (hoặc lạ) hơn đến từ bên ngoài gia đ́nh. Nói cách khác, khi gia
đ́nh có con đến tuổi VTN, các giá trị truyền thống vốn đang giúp đời
sống ổn định trước đây th́ nay phải chịu nhiều thách thức. Một kiểu mẫu
hành vi mới hoặc một phương thức suy nghĩ mới cũng có thể khiến các
thành viên trong gia đ́nh trở nên không đồng thuận. Một số hoàn cảnh mới
thậm chí c̣n thách thức cả các niềm tin và giá trị vốn có của gia đ́nh,
đôi khi đến mức phải định nghĩa lại một số khái niệm quan trọng chẳng
hạn như “Thế nào là con ngoan?”, “Thế nào là có hiếu?”, “Thế nào là sống
tốt?”, “Thế nào là một người trưởng thành, tự chủ?”, vv...
(2)
Cơ cấu gia đ́nh phải chuyển đổi: Gia đ́nh phải chuyển đổi
dần từ một cơ cấu có tính bảo bọc, dưỡng dục con c̣n nhỏ sang một cơ cấu
phù hợp chức năng mới là chuẩn bị nền tảng cho sự trưởng thành của đứa
con VTN – một sự trưởng thành không chỉ đơn thuần trên khía cạnh sinh
học tự nhiên mà cả trên các khía tâm lư và xă hội nữa. Trong xă hội
truyền thống ở giai đoạn “tiền công nghiệp”, gia đ́nh có chức năng huấn
nghiệp và truyền thụ kinh nghiệm làm việc cho người VTN. Trong xă hội
hiện đại (giai đoạn công nghiệp và hậu công nghiệp), có sự chuyên biệt
hóa sâu của các hoạt động xă hội, chức năng giáo dục kiến thức và đào
tạo nghề nghiệp là thuộc về xă hội. Gia đ́nh (cụ thể là bố mẹ và những
người lớn khác) không c̣n truyền nghề mà chỉ truyền ư kiến về nghề
nghiệp cho người VTN, mà đôi khi cả việc “truyền ư kiến” thôi cũng có
thể không xảy ra được v́ nhiều lư do khác nhau.
(3)
Gia đ́nh theo ḍng thời gian: Chúng ta cũng không quên
rằng khi đứa con đến tuổi VTN với con đường vào đời đang mở rộng trước
mắt, th́ bố mẹ cũng đang bước vào (hoặc đang ở trong) giai đoạn tuổi
trung niên – một lứa tuổi vừa đủ để có được những trải nghiệm sống phong
phú, cũng vừa đủ để có thể cảm nhận được sự thành công hay không thành
công trong cuộc đời ḿnh. Cả hai lứa tuổi vị thành niên và trung niên
đều có thể xuất hiện các khủng hoảng, và sự “cộng hưởng” có thể xảy ra
giữa trạng thái khủng hoảng của hai thế hệ. Nh́n rộng lên các thế hệ
trên, cũng không nên quên rằng thế hệ ông bà cũng bước vào tuổi lăo
niên, thậm chí có vị đă khuất, và điều này làm gia tăng các gánh nặng
trách nhiệm có thể có đối với bố mẹ. Nói cách khác, khi bố mẹ của người
VTN ở vào giai đoạn muốn nghiệm thu và phát huy các thành quả của đời
sống, kỳ vọng nhiều vào sự phát triển ổn định của gia đ́nh, th́ họ phải
đối mặt với nhiều yêu cầu mới, trách nhiệm mới có tính thách thức. Bố mẹ
của người VTN do vậy phải thích nghi liên tục không chỉ với những đổi
thay nội tại bên trong gia đ́nh mà c̣n với cả những điều kiện sống, làm
việc, tương tác với môi trường sống bên ngoài gia đ́nh. Sự cố gắng thích
nghi này có thành công hay không cũng góp phần quan trọng vào việc bố mẹ
có giúp được người con VTN h́nh thành được bản sắc cá nhân vững vàng làm
nền tảng cho sự trưởng thành và tự chủ về sau hay không. Trong những
hoàn cảnh thách thức cao, các kiểu cách ứng phó của gia đ́nh có lúc
không hiệu quả, t́nh trạng khủng hoảng có khi trở nên nặng nề, mối quan
hệ giữa các thế hệ và giữa các thành viên trong gia đ́nh trở nên xung
đột gay gắt, đôi khi đến mức khó thể hóa giải.
(4)
Bản sắc cá nhân và sự tự chủ: Giai đoạn tuổi VTN là giai
đoạn có sự h́nh thành bản sắc của một cá nhân. Bản sắc cá nhân (identity)
là những ư niệm, cách nh́n của một con người về những tính cách đặc
trưng mà người đó cho rằng đă minh họa tốt nhất, đúng nhất về bản thân
ḿnh. Nói cách khác, đó là cách một người tự h́nh dung và cảm nhận về
bản thân ḿnh, từ đó h́nh thành bản ngă (self) làm nền tảng cho
sự trưởng thành và tự chủ của người VTN sau này. Sự trưởng thành (về mặt
tâm lư, xă hội) nhất thiết phải kèm với tính tự chủ (autonomy).
Tính tự chủ là khuynh hướng sống tự dựa vào khả năng của chính ḿnh và
có thể đưa ra những quyết định độc lập. Hai trong số những quyết định
quan trọng mà một người trưởng thành tự chủ phải thực hiện là (1) Chọn
lựa một ngành nghề phù hợp và xây dựng sự nghiệp; (2) Chọn lựa bạn đời
và xây dựng gia đ́nh. Bản sắc cá nhân và tính tự chủ được h́nh thành và
phát triển thuận lợi trong môi trường gia đ́nh lành mạnh. Đó là khi bố
mẹ linh hoạt phối hợp một cách thành công giữa hai chức năng: vừa duy
tŕ uy quyền và ảnh hưởng của ḿnh đối với con, vừa có thái độ khuyến
khích con tham gia ư kiến vào các quyết định trong gia đ́nh.
(5)
Vị thành niên trước ngưỡng cửa cuộc đời: Đứng trước ngưỡng
cửa rộng mở vào đời với nhiều cơ hội và những khả năng lựa chọn muôn màu
muôn vẻ, người VTN phải đương đầu với những thách thức lớn trong việc
h́nh thành các quyết định. Người VTN phải tiếp nhận đủ và xử lư tốt các
thông tin sao cho họ có thể có được những quyết định đúng. Các thông tin
có thể đến từ hai nguồn quan trọng sau đây:
-
Kế thừa các giá trị truyền thống từ gia đ́nh và tộc họ:
Gia đ́nh và tộc họ, thông qua cả quá tŕnh dưỡng dục, sẽ “ủy nhiệm” cho
đứa con VTN nghĩa vụ phải kế thừa và duy tŕ các giá trị truyền thống.
-
Thông tin từ môi trường xă hội bên ngoài gia đ́nh: Những
thông tin này luôn phong phú, đa dạng, và thay đổi theo thời cuộc. Người
VTN phải thu thập và xử lư chúng thông qua cái “lăng kính” chính là
những quan điểm sống dựa trên bản sắc cá nhân của chính ḿnh.
NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA MỘT XĂ HỘI THÔNG TIN
Đến đây, người viết xin đề cập đến chủ đề về xă hội thông tin – khái
niệm, vai tṛ và sau đó sẽ nói đến những ảnh hưởng của nó đối với đời
sống gia đ́nh có con VTN cũng như sự h́nh thành tính tự chủ của người
VTN.
Chưa có định nghĩa nhất quán về thế nào là một xă hội thông tin. Tuy nhiên, hầu hết các học giả đều nhất trí rằng đă có sự chuyển đổi dần dần từ xă hội cũ (tiền công nghiệp hoặc công nghiệp) sang h́nh thái xă hội thông tin từ khoảng thập niên 1970 và cho đến nay điều đó đă làm nên những biến đổi căn cơ về phương thức vận hành của xă hội. Xă hội mạng (network society), xă hội tri thức (knowledge society), xă hội hậu công nghiệp (post-industrial society) hoặc xă hội hậu hiện đại (post-modern society) là những tên gọi khác của xă hội thông tin, một kiểu xă hội hoàn toàn mới với hai tính chất đặc trưng lớn là toàn cầu hóa (globalization) và thông tin hóa (informatization).
Phương thức lao động phi vật thể (immaterial labour) dần dần phát triển tạo ra các sản phẩm tri thức và văn hóa có tính kinh tế cao. Cũng từ đó xuất hiện nền kinh tế tri thức (knowledge economy) nghĩa là khi phúc lợi được tạo nên từ sự khai thác khía cạnh kinh tế của sự hiểu biết (tri thức sinh ra lợi ích kinh tế). Ngay cả những kiến thức, hiểu biết mà trẻ em tiếp thu qua học tập cũng có thể được h́nh dung thành khái niệm “tư bản xă hội” (social capital), v́ đó chính là phần “vốn” đang được tích lũy để đầu tư cho mục đích kinh tế sau này. Xă hội thông tin không chỉ ảnh hưởng đến cách thức tương tác giữa người với người, nó c̣n đ̣i hỏi những cách thức tổ chức xă hội theo truyền thống phải trở nên cởi mở hơn, linh hoạt hơn, mở rộng dư luận với nhiều người dự phần hơn và đang có xu hướng tiến đến một xă hội thông tin toàn cầu (global information society).
Sự tiến bộ của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) đă làm thay đổi nhanh chóng phong cách sống của con người trên phạm vi toàn thế giới. Những cách thức làm việc, cách tạo dựng cơ nghiệp, cách giáo dục con cái, cách học tập và nghiên cứu, cách thức tự rèn luyện bản thân, cho đến cả cách thức vui chơi, giải trí... tất cả đều đang dần thay đổi. Bên cạnh các phương tiện truyền thông đại chúng (mass media) vốn đă phát triển trong nhiều thập niên nay, mạng internet đă trở thành một kênh dẫn thông tin phổ biến và hiệu quả trong xă hội thông tin. Cũng trên mạng internet, đă h́nh thành nên một “không gian điều khiển học” (cyber space) trong đó xảy ra một kiểu thức giao tiếp mới giữa con người với nhau: giao tiếp qua mạng. Từ điển tiếng Anh có thêm một từ mới: Nettizen, nghĩa là “cư dân mạng”. Cộng đồng cư dân mạng được h́nh thành cũng dựa trên nhu cầu cần được truyền thông, giao tiếp với nhau, vượt qua những biên giới, rào cản tự nhiên về không gian, địa lư, ngôn ngữ, văn hóa... Những cư dân mạng sẽ trở thành những sứ giả giúp truyền đi cũng như lưu giữ lại những giá trị, những ư tưởng hoặc những khuôn mẫu hành vi, và tiến tŕnh trao đổi thông tin có thể thực hiện không hạn chế thông qua không gian mạng. Internet ngày càng trở thành một nguồn thông tin và kho lưu trữ kiến thức quan trọng trên thế giới, và đang dần trở thành một công cụ có tầm ảnh hưởng lớn lao trên tiến tŕnh học tập, phát triển và xă hội hóa của con người trong thời kỳ hậu hiện đại.
CÁC NGHIÊN CỨU BƯỚC ĐẦU
Mạng Infoyouth của UNESCO (Mạng thông tin toàn cầu của UNESCO, cung cấp thông tin cho các chính phủ, các cơ quan, tổ chức phụ trách các vấn đề về vị thành niên và thanh niên) đă bước đầu công bố các kết quả nghiên cứu về tác động của ICT trên đời sống gia đ́nh của người VTN. Sự phát triển của xă hội thông tin đă làm thay đổi các tương tác và quan hệ giữa các thành viên bên trong gia đ́nh. Khi cha mẹ ngày càng ít dành thời gian cho con cái hơn, những đứa con sẽ có khuynh hướng tiếp cận đến công nghệ thông tin và các phương tiện truyền thông sẵn có nhiều hơn. Ở một số gia đ́nh, ti-vi, điện thoại và màn h́nh vi tính là nơi trẻ thực hiện các tương tác, giao lưu với xă hội, hoặc (nói theo ngôn ngữ trong thời kỳ kinh tế tri thức) đó là những công cụ chủ yếu giúp trẻ em “tích lũy tư bản xă hội”. Một hệ quả không hay đó là khi gia tăng sử dụng công nghệ thông tin, con người sẽ có khuynh hướng giảm thiểu các tương tác trực tiếp trong gia đ́nh. Một số trẻ em có thể đến ôm lấy màn h́nh vi tính nhanh hơn đến ôm bố mẹ (!) Và trong nhiều trường hợp, bố mẹ bị giảm hoặc mất đi khả năng kiểm soát những nguồn thông tin mà trẻ thu nhận được từ môi trường bên ngoài. Tất cả trẻ em đều cần có một giai đoạn tiếp nhận “tư bản xă hội ban đầu” từ bố mẹ và gia đ́nh, trước khi tiếp nhận thông tin từ nguồn gốc bên ngoài. Đó chính là các quy tắc sống, các giá trị và quy chuẩn mà ngay trong những năm đầu đời trẻ cần học hỏi trước tiên là từ bố mẹ và người thân, sau đó là từ thầy cô và môi trường sống bên ngoài. Việc giảm tương tác bố mẹ và con cái, đồng thời cho trẻ tiếp xúc sớm công nghệ thông tin có thể làm mất đi lợi ích của giai đoạn này.
Trong hai năm 2001-2002, một nghiên cứu đă được tiến hành ở Phần Lan (do Ủy ban V́ Tương Lai, thuộc Quốc hội Phần Lan điều hành, thực hiện bởi nhóm nghiên cứu của GS. Lea Pulkkinen, Trung tâm Agora, Đại học Jyvaskyla) nhằm phân tích ảnh hưởng của công nghệ thông tin lên sự phát triển kỹ năng xă hội cũng như sự tiếp nhận “tư bản xă hội” ở trẻ em. Nghiên cứu cho thấy: Ảnh hưởng của công nghệ thông tin lên đời sống của trẻ em và VTN như thế nào là tùy thuộc vào tính chất của sự hỗ trợ của môi trường xă hội dành cho các lứa tuổi này. “Một con người sẽ tích lũy đầy đủ tư bản xă hội khi người đó là một thành viên đáng tin cậy trong cộng đồng và có khả năng giao lưu, tương tác với các thành viên khác trong cộng đồng”.
Có một điều tốt ở đây: Trẻ em thường có khuynh hướng chia sẻ và trao đổi với bố mẹ các thông tin mà các em lấy được từ media (gọi chung cho các nguồn thông tin từ truyền thông đại chúng và cả internet) cũng như từ môi trường sống thực tế bên ngoài gia đ́nh, miễn là bố mẹ cũng nhiệt t́nh lắng nghe và chia sẻ với trẻ. Và trong thực tế, khi gia đ́nh có con đến tuổi đi học, đặc biệt là con ở lứa tuổi VTN, bố mẹ cũng cần lắng nghe và trao đổi thông tin với con v́ bản thân bố mẹ cũng cần phải “giao lưu” với các thông tin và các giá trị mới từ bên ngoài (cả thế giới thật, lẫn thế giới “ảo” từ media).
Hơn nữa, sự hướng dẫn của bố mẹ vẫn luôn là một điều cần thiết, do bởi không phải tất cả mọi điều thu nhận từ internet và truyền thông đều thích hợp với trẻ em và VTN, mà đôi khi cũng có những thứ gây nhầm lẫn và khó hiểu với cả người lớn. Thông tin từ internet cũng có những nguy cơ đối với sự phát triển cảm xúc và phát triển kỹ năng xă hội ở trẻ em và VTN. Đặc biệt đối với những trẻ em và VTN có vấn đề yếu kém về kỹ năng giao tiếp và quan hệ xă hội, nghiên cứu nhận thấy những “tương tác ảo” trên mạng (dưới h́nh thức chat, các gallery h́nh ảnh, phim, clip sex, game...) có thể tạo nên những sự tưởng thưởng mạnh mẽ hơn nhiều so với khi những trẻ em và VTN ấy thực hiện những tương tác thật với người khác trong đời sống thực tế. Đó cũng chính là điều kiện góp phần h́nh thành sự gắn kết của trẻ em và VTN với phương thức tương tác trên mạng. Nghiên cứu cũng cho thấy trẻ trai và nam giới nói chung thích sưu tầm thông tin, games và các tương tác ảo nhiều hơn nữ. Nữ giới sử dụng điện thoại và các h́nh thức giao tiếp gần với truyền thống nhiều hơn nam.
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng nhận thấy những đóng góp tích cực của công nghệ thông tin đối với trẻ em và VTN. Kết luận từ các nghiên cứu cho rằng: Bất kể những khác biệt nền tảng về kỹ năng xă hội và giới tính của trẻ như thế nào, tất cả trẻ em và VTN đều phải được dạy những kiến thức và kỹ năng cơ bản về công nghệ thông tin và phải được tạo cơ hội để tiếp cận, sử dụng loại công nghệ này, v́ những mục đích t́m kiếm thông tin trong học tập, để giao lưu cũng như để giải trí. Game nếu được cấu trúc tốt, có tính giáo dục, vẫn có thể góp phần giúp trẻ em và VTN “tích lũy tư bản xă hội”. Việc giao lưu trên không gian mạng giúp trẻ gia tăng trao đổi thông tin và sáng tạo nên một “cộng đồng ảo” tồn tại song song với một cộng đồng truyền thống, trong đó vẫn duy tŕ những tương tác thực sự giữa người với người.
Các nhà nghiên cứu do vậy đă đề xuất việc xă hội sẽ hỗ trợ đầy đủ cho bố mẹ sao cho họ có thời gian dành cho việc cùng tham gia với con cái trong việc sử dụng media hoặc trao đổi về các thông tin lấy được từ đó; cung cấp đủ các dịch vụ hướng dẫn về sử dụng ICT cho cả trẻ em, VTN và bố mẹ (các dịch vụ này phải được bao cấp hoặc được tài trợ để tránh tăng các phí tổn cho gia đ́nh) và phát triển h́nh thức hỗ trợ đồng đẳng giữa trẻ với trẻ, VTN với VTN về sử dụng ICT hiệu quả. Các đề xuất này chung cuộc đều hướng đến phát huy những hiệu quả của công nghệ thông tin trong đời sống của một xă hội thông tin mà vẫn chú ư không làm mất đi các phương thức giao tiếp và tương tác trực tiếp giữa người với người vốn đă rất hiệu quả và có tác dụng lưu truyền những giá trị tốt đẹp trong các h́nh thái xă hội truyền thống. Theo thiển ư của người viết, đó cũng là cách góp phần khuyến khích tính tự chủ của người VTN đang chuẩn bị bước vào đời, đồng thời cũng giúp h́nh thành và củng cố mối quan hệ tương quan phụ thuộc giữa người VTN với gia đ́nh và người thân của ḿnh.
ĐÔI LỜI KẾT
Việt Nam đă và đang trong giai đoạn chuyển từ xă hội tiền công nghiệp sang xă hội công nghiệp. Trong tiến tŕnh hội nhập và phát triển, tất nhiên Việt Nam cũng chịu những tác động nhất định từ xu hướng thông tin hóa và toàn cầu hóa hiện nay trên thế giới. Nhất là khi Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển ICT thuộc hàng nhanh chóng trên thế giới. Sự trao đổi thông tin và giao lưu văn hóa ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn, vừa tạo cơ hội cho phát triển, vừa mang lại những thách thức cho những khuôn mẫu tư duy, cách thức ứng xử, cùng bản sắc và các giá trị truyền thống. Trong quá tŕnh ấy, tất nhiên cũng sẽ có những yêu cầu cấp thiết được đặt ra cho từng gia đ́nh và từng con người trong xă hội Việt Nam sao cho có thể tạo được sự quân b́nh giữa bảo tồn, lưu giữ bản sắc và các giá trị truyền thống với sự linh hoạt thay đổi để thích nghi với những điều kiện phát triển mới. H́nh ảnh ấy của cả đất nước nếu thu nhỏ lại cũng có khá nhiều điểm tương đồng với hoàn cảnh của một gia đ́nh có con đến tuổi VTN như đă mô tả ở những phần đầu của bài viết.
Việc nghiên cứu ở Việt Nam hẳn là rất cần thiết để khảo sát những ảnh hưởng của xă hội thông tin lên đời sống và các mối quan hệ trong gia đ́nh Việt Nam nói chung, đặc biệt là trên sự phát triển tính tự chủ và khả năng trưởng thành của người VTN Việt Nam nói riêng. Người viết không dám lạm bàn về các lĩnh vực nghiên cứu vĩ mô, đó là công tác của những nhà nghiên cứu xă hội học. Trong góc nh́n của người làm thực hành và giảng dạy tâm lư lâm sàng, người viết chỉ đóng góp bài viết có tính khái quát này cho nội dung chung của hội thảo, và về phần ḿnh sẽ sử dụng các kiến thức ấy vào công việc trị liệu, hỗ trợ tâm lư cho những ca lâm sàng ở lứa tuổi trẻ em và VTN trong thực tiễn làm việc của bản thân.
|
|
|
Địa chỉ liên hệ:
|
||