|
V̀ MỤC ĐÍCH PHÁT TRIỂN CHUYÊN NGÀNH TÂM LƯ TRỊ LIỆU TẠI VIỆT NAM |
||
|
GIỚI THIỆU
Tác giả Dành cho thân chỦ
Thư gửi quư độc giả BÀI VIẾT
Chuyên đề GIÁO TR̀NH - TÀI LIỆU Đề cương
Học phần đại cương Tài liệu
Bài giảng tâm lư trị liệu
|
www.tamlytrilieu.com
TÂM LƯ TRỊ LIỆU TRẺ EM – LIỆU PHÁP CHƠI KHÔNG HƯỚNG DẪN (NON-DIRECTVE PLAY THERAPY)
BS NGUYỄN MINH TIẾN dịch và tổng hợp
Liệu pháp chơi không hướng dẫn là một phương pháp tiếp cận hiệu quả và ít gây xâm phạm (non-intrusive) trong làm việc với trẻ em và người trẻ có vấn đề khó khăn tâm lư. Liệu pháp này có thể được sử dụng bởi những nhà chuyên môn làm việc trực tiếp với những trẻ em có vấn đề tổn thương về cảm xúc trong những cơ sở chăm sóc trẻ em, các trung tâm sức khỏe tâm thần và cả những cơ sở làm công tác xă hội thiện nguyện.
Liệu pháp chơi không hướng dẫn được tŕnh bày ở đây có liên quan đến việc thiết lập một mối quan hệ đặc biệt một-một: giữa nhà trị liệu và một đứa trẻ; trong đó nhà trị liệu tạo nên một bầu khí làm việc có tính an toàn và đáng tin cậy mà qua đó đứa trẻ có thể cảm thấy tự do để giải bày và khám phá những cảm xúc cũng như những ư nghĩ của chính bản thân trẻ. Đứa trẻ có thể giao tiếp một cách trực tiếp thông qua lời nói (cả cách nói cụ thể lẫn cách nói có ẩn ư) hoặc một cách gián tiếp thông qua hành vi và nội dung chơi.
Công việc của nhà trị liệu là lắng nghe, thấu hiểu và đáp ứng lại với trẻ bằng cách thức sao cho có thể giúp trẻ hiểu được nhiều hơn những cảm xúc của chính ḿnh. Những khía cạnh tiêu cực về cảm xúc sẽ mất đi sức mạnh chi phối của chúng khi trẻ được phép giải bày và được trải nghiệm những cảm xúc ấy trong một mối quan hệ có tính chấp nhận giữa trẻ với nhà trị liệu. Điều được nhấn mạnh trong liệu pháp này là giúp trẻ chuyển từ t́nh trạng phó mặc bản thân cho những cảm xúc giấu kín kia sang trạng thái làm chủ hơn đối với những cảm xúc ấy.
Liệu pháp này được dựa trên các nguyên lư của tâm lư trị liệu không hướng dẫn (non-directive psychotherapy) được phát triển bởi Carl Rogers tại Hoa Kỳ và được điều chỉnh bởi Virginia Axline để áp dụng vào trị liệu tâm lư cho trẻ em (được biết nhiều thông qua hai tác phẩm Dibs in Search of Self năm 1946 và Play Therapy năm 1947). Triết lư nền tảng của loại liệu pháp này chính là điều hiện hữu trong tất cả mọi con người, đó chính là khuynh hướng tự hiện thực hóa bản thân (self-actualization) cả ở người lớn lẫn ở trẻ em. Giả định được đặt ra là khi trẻ có cơ hội tự do giải bày các cảm xúc của chính ḿnh, trẻ sẽ t́m thấy các giải pháp để giải quyết các khó khăn về cảm xúc của bản thân và trẻ sẽ sử dụng nhà trị liệu cùng các trải nghiệm trong khi chơi để thực hiện điều đó.
Điều rất quan trọng trong khi tiến hành liệu pháp là cần phải hết sức lưu tâm đến những nhu cầu cần được giúp đỡ của chính đứa trẻ thay v́ chỉ tập trung vào những việc như khảo sát hoặc đánh giá (những việc mà đôi khi chiếm nội dung chủ yếu trong công việc của nhà trị liệu).
Không chỉ có một phuơng pháp tiếp cận duy nhất cho tất cả các tác giả làm việc trong lĩnh vực trị liệu trẻ em. Schaefer và O’Conner (1983) và Schaefer (1993) đă điều chỉnh liệu pháp chơi cho từng loại rối nhiễu chuyên biệt ở trẻ em, một cách thức được gọi tên là Chơi trị liệu theo kiểu “kê đơn” (“prescriptive” play therapy). Tương tự, Redgrave (2000) cũng tổ chức cách thức can thiệp dựa trên những yêu cầu chính của việc trị liệu. Carroll (1998) c̣n khẳng định rằng tất cả cách thức tiếp cận khác nhau đều có giá trị như nhau. Tuy nhiên, kiểu cách chiết trung như thế cũng tạo nên một số trở ngại: nó đă mơ hồ và dễ dăi phát triển và điều chỉnh những phương thức trị liệu theo những khuôn khổ lư thuyết có tính rập khuôn và thô thiển. Trong huấn luyện cũng như trong thực hành, đă có sự nhầm lẫn lớn giữa chơi trị liệu (play therapy) với các cách can thiệp có sử dụng chơi (play related intervention) như những phương pháp để đánh giá đứa trẻ hoặc giúp trẻ thực hiện những thay đổi trong đời sống. Các chuyên viên thực hành (practitioners) cũng thường sử dụng chơi như một phương tiện giúp hỗ trợ cho việc giao tiếp với trẻ em, và điều này khi được thực hiện với sự nhạy cảm cũng có thể có những giá trị về mặt trị liệu; tuy nhiên mục tiêu và phương pháp là rất khác biệt và phải được phân biệt rơ.
I. CÁC TIẾP CẬN CHÍNH ĐỐI VỚI CHƠI TRỊ LIỆU
Chơi trị liệu có thể được định nghĩa là một cách thức để tạo nên những trải nghiệm sâu sắc về mối quan hệ giữa nhà trị liệu với những trẻ em (hoặc người trẻ tuổi), trong đó chơi là một môi trường giao tiếp chủ yếu (Wilson, 2000). Thông thường trong trị liệu ở người lớn, mục đích của những trải nghiệm như thế là dẫn đến các thay đổi trong những mối quan hệ cơ bản của thân chủ, những mối quan hệ mà trước đó đă có những tổn thương và bị lệch lạc trong quá tŕnh phát triển. C̣n trong trị liệu trẻ em, mục đích là để đưa chức năng cảm xúc và chức năng xă hội của trẻ trở lại mức độ ngang tầm với giai đoạn phát triển của lứa tuổi sao cho trẻ có thể lấy lại tiến tŕnh phát triển b́nh thường (O’Conner & Schaefer, 1994; Ryan & Wilson, 1995). Trái với cách tiếp cận chủ yếu sử dụng lời nói khi làm việc với người lớn, chơi là cách được sử dụng ở trẻ em bởi v́ chơi là hoạt động mà trẻ có khả năng thích nghi tốt và chơi cũng là hoạt động có chức năng tổ chức (organizing function) trong phát triển ở trẻ em.
Chơi sử dụng chủ yếu các biểu tượng không lời (non-verbal symbols) và là một trong số những cách thức chính để trẻ phát triển các hiểu biết, khám phá các xung đột, cũng như “ôn lại” các kỹ năng về cảm xúc và xă hội. Sau các công tŕnh của Anna Freud và Melanie Klein đă hợp nhất hoạt động chơi với các buổi phân tâm cho trẻ em kể từ thập niên 1930, chơi trị liệu được phát triển thành nhiều phương pháp tiếp cận chủ yếu như sau: liệu pháp chơi theo kiểu phân tâm (psychoanalytic play therapy), liệu pháp chơi nhận thức-hành vi (cognitive behavioral play therapy), liệu pháp chơi có cấu trúc (structural play therapy) và liệu pháp chơi không hướng dẫn hay c̣n gọi là liệu pháp chơi lấy đứa trẻ làm trọng tâm (child-centered play therapy). Ngoài ra c̣n một số các liệu pháp chơi khác được gọi tên theo trường phái lư thuyết như ở người lớn như Jungian, Adlerian, Gestalt...
Một số cách tiếp cận có những kỹ thuật riêng không chia sẻ với cách khác, tuy nhiên nhiều kỹ thuật cũng có lúc được vay mượn từ nhiều trường phái tiếp cận khác nhau.
LIỆU PHÁP CHƠI THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÂN TÂM
Mặc dù Freud làm việc chủ yếu với người lớn, quá tŕnh phân tích của ông đối với bé Hans (có cha là một nhà trị liệu) cùng với các quan sát của ông về ư nghĩa của chơi ở trẻ em đă mở đường cho Anna Freud và Melanie Klein về sau phát triển nên phân tâm học trẻ em. Freud viết:
Công việc yêu thích nhất và thu hút nhất đối với trẻ em là chơi. Chúng ta có thể nói rằng một đứa trẻ khi chơi sẽ hành xử như một nhà văn với đầy trí tưởng tượng, thông qua đó trẻ sáng tạo nên một thế giới của chính ḿnh, hay nói đúng hơn, trẻ sắp đặt lại các sự vật trong thế giới của ḿnh, bố trí chúng theo một cách thức mới sao cho trẻ có thể cảm thấy thoải mái hơn. Sẽ không đúng nếu nói rằng trẻ không nắm bắt thế giới của trẻ một cách nghiêm túc; trái lại, trẻ đă sử dụng việc chơi một cách rất nghiêm túc và đă đầu tư rất nhiều t́nh cảm của ḿnh vào trong đó. Điều đối ngược với chơi không phải là làm việc, mà là thực tế. Tuy đă đầu tư năng lượng cảm xúc rất nhiều vào thế giới vui chơi của ḿnh, trẻ vẫn hoàn toàn phân biệt rơ chúng với thực tế đời sống; trẻ chỉ vay mượn các đối tượng và t́nh huống mà trẻ có thể tưởng tượng nên từ thế giới thực tế hữu h́nh mà thôi. Chỉ duy với điều liên hệ này – giữa chơi và thực tế đời sống – mới giúp phân biệt sự khác nhau giữa chơi ở trẻ em với trạng thái mơ mộng... Freud, 1974; 173-174.
Klein và Anna Freud, làm việc ở Vienna và Luân Đôn vào các thập niên 1920 và 1930, đă có những đóng góp rất lâu bền cho việc phát triển chơi trị liệu. Cả hai đều tin rằng nhiều rối loạn tâm lư ở trẻ em là kết quả của các xung đột vô thức. Cả hai cũng cho rằng các rối loạn có thể được giải quyết và cái tôi của trẻ có thể được tăng cường bằng cách mang các thành phần vô thức này vào tầng ư thức thông qua quá tŕnh diễn giải của nhà trị liệu về các nội dung chơi và giấc mơ của trẻ em. Cả hai đều xem nội thị (insight) là phần thiết yếu cho giải pháp và khả năng này không thể xảy ra nếu không có tiến tŕnh “khơi thông” (working through).
Trong phân tâm trẻ em, chơi được xem là cách thay thế cho liên tưởng tự do ở người lớn; cả hai đều thoát khỏi sự kiểm duyệt của đời sống thực tế. Công việc chính của một nhà phân tâm trẻ em là t́m cách hiểu và diễn giải các nội dung chơi mang tính biểu tượng của trẻ. Klein đă trang bị trong pḥng chơi nhiều loại chất liệu chơi, các h́nh mẫu tượng trưng và những đồ chơi không tự vận hành (non-mechanical) để kích thích trẻ chơi một cách tưởng tượng.
Có sự khác nhau giữa Klein và Anna Freud về bản chất mối quan hệ giữa trẻ với nhà trị liệu và mức độ diễn giải các giao tiếp bằng lời cũng như không lời của trẻ, tuy vậy cả hai tác giả đều đă góp phần quan trọng giúp cho việc hiểu và làm việc với trẻ em. Tuy nhiên, phân tâm trẻ em cũng giống như phân tâm người lớn, đều là những quá tŕnh chuyên môn hóa cao và rất tốn thời gian. Ở hai bờ Đại Tây Dương (Châu Âu và Hoa Kỳ), cách tiếp cận này dần chuyển thành tâm lư trị liệu theo định hướng phân tâm (analytically oriented psychotherapy), nghĩa là cách tiếp cận với cùng những nguyên lư và kỹ thuật nhưng ít đi sâu hơn, ngắn hạn hơn và mục tiêu giới hạn hơn. Ngoài ra, các lư thuyết về phát triển trẻ em của phân tâm học vẫn có thể giúp ích cho các trường phái khác (ví dụ cách tiếp cận chơi trị liệu không hướng dẫn) ngay cả khi các kỹ thuật phân tâm không được sử dụng.
LIỆU PHÁP QUAN HỆ ĐỐI TƯỢNG (OBJECT RELATIONS THERAPY)
Winnicott, mặc dù đưọc huấn luyện theo trường phái của Klein, nhưng lại làm việc theo liệu pháp quan hệ đối tượng theo kiểu Anh, cùng với Fairbairn, Dicks và Bowlby. Ông cũng đă phát triển riêng cho ḿnh một kiểu tiếp cận có tính thuyết phục cao trong làm việc với trẻ em. Ông xem chơi là trung tâm của những trải nghiệm có tính trị liệu và tin rằng hoạt động chơi ở trẻ em có một sự liên tục trực tiếp với điều mà ông gọi là “khu vực trung gian” (intermediate area) trong các trải nghiệm ở người lớn như nghệ thuật và tôn giáo, nơi mà “sức căng” trong việc xử lư sự chuyển tiếp giữa thực tại bên trong và bên ngoài tương đối không quá thách thức và v́ thế không gây lo âu nhiều. V́ thế, theo quan điểm của ông, chơi là phương tiện để đứa trẻ quản lư sự chuyển tiếp giữa thế giới nội tâm bên trong và thực tại bên ngoài, v́ thế nó luôn ở trên lằn ranh giữa cái chủ quan và những ǵ mà trẻ nhận thức được một cách khách quan (Winnicott, 1988).
Mặc dù làm việc chủ yếu dựa trên những tư liệu được trẻ tŕnh bày thông qua chơi, cách tiếp cận của Winnicott có thể được xếp vào loại liệu pháp có hướng dẫn và có tính diễn giải cao (directive and interpretive). Có tính hướng dẫn là v́ nhà trị liệu đôi lúc chọn lựa một h́nh thức chơi đặc biệt nào đó như một phương tiện giao tiếp chính, chẳng hạn tṛ chơi “vẽ tiếp nét” (squiggle game) rất nổi tiếng của Winnicott trong đó nhà trị liệu và trẻ luân phiên thực hiện những nét vẽ cho đến khi hoàn tất một bức tranh và cho những lời b́nh về những ǵ mà ḿnh đă vẽ. Có tính diễn giải là v́ khi đáp ứng lại với những nội dung chơi hoặc giấc mơ của trẻ nhà trị liệu sẽ phát biểu thành lời những liên hệ giữa những hành vi được biểu hiện nơi đứa trẻ với những cảm xúc có thể c̣n ẩn giấu bên trong vô thức. Trọng tâm chính của liệu pháp là nhằm bộc lộ một cách có hệ thống những tư liệu bên trong vô thức, nhưng các tư liệu được bộc lộ này phải giới hạn lại bên trong thời hạn cho phép của phiên trị liệu.
Winnicott cũng thừa nhận một số cách thức tiếp cận khác trong làm việc với trẻ em. Đôi khi ông xem hoạt động chơi ở trẻ em như sự phản ánh lại các trải nghiệm được mô tả lại bởi những người chăm sóc trẻ, thường là người mẹ; đôi khi ông diễn giải điều này cho trẻ, đôi khi lại không; có lúc ông đáp ứng lại các giao tiếp của trẻ bằng chính những ngôn từ và ẩn dụ của trẻ mà không khám phá các ư nghĩa biểu tượng chứa đựng bên trong chúng, có lúc ông lại diễn giải và liên hệ chúng với những tư liệu trong lịch sử của trẻ. Cách tiếp cận của Winnicott đôi lúc lại khá giống với liệu pháp chơi không hướng dẫn; và thực vậy khi thừa nhận rằng “tâm lư trị liệu chiều sâu có thể được thực hiện mà không cần sử dụng cách diễn giải”, Winnicott đă trích dẫn và chấp nhận Axline (Winnicott, 1988). Hơn nữa, ư kiến của ông về vai tṛ của chơi trong việc giúp trẻ giao tiếp và làm chủ những thực tại bên ngoài cũng như bên trong nội tâm trẻ đă giúp người ta thấu hiểu hơn về tiến tŕnh trị liệu.
TIẾP CẬN NHẬN THỨC – HÀNH VI (CBT)
Cách thức tiếp cận này bắt nguồn từ quan điểm cho rằng tất cả những hành vi của con người đều có mục đích và đều do học tập mà có. Liệu pháp này có tính hướng dẫn và được dựa trên những hiểu biết về nhận thức và hành vi của con người. Trong liệu pháp này, nhà trị liệu cùng với thân chủ nhất trí với nhau về mục tiêu can thiệp và thiết kế các hoạt động và đáp ứng sao cho những tác nhân củng cố tích cực có thể thúc đẩy h́nh thành những hành vi mong muốn; và loại bỏ đi những hành vi được xem là không mong muốn. Trong các can thiệp hành vi theo truyền thống, các hoạt động chơi ít khi được sử dụng; các kỹ thuật chủ yếu được thực hiện bởi cha mẹ hoặc giáo viên và chú trọng đến những tương tác của trẻ với môi trường xung quanh.
CBT là liệu pháp được áp dụng rộng răi trong các nhóm làm việc về sức khỏe tâm thần cho trẻ em và vị thành niên và đă chứng tỏ mang lại nhiều hiệu quả. Mặc dù trọng tâm và phong cách có nhiều đặc trưng khác biệt, các nhà trị liệu CBT cũng có chung những quan điểm với các trường phái tâm động học và thân chủ trọng tâm về những trải nghiệm trong trị liệu. Truax và Carrkhuff (1967) khi viết về mối quan hệ trị liệu từ quan điểm của Rogers đă cho rằng ít nhất có một số khía cạnh trong các tương tác giữa thân chủ và nhà trị liệu có thể được quan niệm theo cách nh́n của lư thuyết học tập (learning theory). Họ cho rằng các kế hoạch trị liệu được thiết kế chủ yếu là nhằm:
(1) Củng cố những khía cạnh tích cực trong ư niệm về bản ngă của thân chủ; (2) Củng cố những hành vi tự khám phá bản thân; (3) Loại bỏ các đáp ứng lo âu hoặc sợ hăi liên quan đến các t́nh huống đặc hiệu; (4) Củng cố các mối quan hệ, tương tác giữa người với người; giảm khả năng học tập những đáp ứng sợ hăi hoặc né tránh khi quan hệ với con người (Sutton, 1979).
Từ quan điểm của trường phái nhận thức, Sutton c̣n đưa thêm một chức năng khác: (5) Chúng cho phép làm sáng tỏ những mâu thuẫn giữa cảm xúc, thái độ và hành vi, cho phép sự thống họp xảy ra đầy đủ hơn.
LIỆU PHÁP LÀM GIẢM NHẸ (RELEASE THERAPY) VÀ KỸ THUẬT HIỂN THỊ THẾ GIỚI (WORLD TECHNIQUE)
Đây là h́nh thức chơi trị liệu giúp cho một đứa trẻ từng có những trải nghiệm đau thương và sang chấn có thể khơi thông những cảm xúc gây ra bởi sang chấn và vượt lên làm chủ những cảm xúc ấy. Liệu pháp này dựa trên một ư tưởng theo quan điểm tâm động học về một sự thúc ép lập đi lập lại bằng cách tái diễn và trải nghiệm lại một sự kiện đặc biệt nào đó sẽ giúp cho những cảm xúc bị dồn nén, bị tắc nghẽn có thể được vơi đi và dần dần được loại bỏ. Mặc dù trẻ được tự do lựa chọn cách thức chơi, các chất liệu chơi tự chúng là có giới hạn và được lựa chọn để khuyến khích trẻ thể hiện các sang chấn thông qua chơi (play out their traumas).
Cách tiếp cận này được phát triển bởi Levy tại Hoa Kỳ (1938), tuy nhiên nó lại mang nhiều tính chất tương đồng với một kỹ thuật của Lowensfeld trong việc chọn lựa một cách cẩn thận những vật liệu chơi chuyên biệt. Kỹ thuật của Lowensfeld có tên là World Technique nghĩa là kỹ thuật thị hiện lại thế giới mà trẻ đang sống. Kỹ thuật này được Lowensfeld giới thiệu tại Viện Tâm lư học Trẻ em Luân Đôn trong thập niên 1920, và vẫn được sử dụng cho đến nay với nhiều cải biên bởi các nhà thực hành ở Châu Âu, Bắc Mỹ và những nơi khác trên thế giới. Trẻ được chơi với một khay cát cùng với nhiều vật liệu thu nhỏ có h́nh người, thú vật, nhà cửa, xe cộ... Trẻ được khuyến khích tạo nên một bức tranh ba chiều – một “thế giới” ở trên cát. Lowensfeld giải thích với trẻ rằng cách mà trẻ chơi có những ư nghĩa mà cả hai sẽ cùng t́m hiểu và khám phá. Bà cũng cho rằng những “thế giới” mà trẻ tạo nên thường phản ánh các khía cạnh của vấn đề mà trẻ gặp phải, và bằng cách cho những lời b́nh chú trên nội dung chơi, đứa trẻ có thể trở nên nhận biết được và làm rơ được những t́nh cảm, những trải nghiệm và những cảm giác đang hỗn độn của ḿnh. Bà gọi đó là quá tŕnh “suy nghĩ không lời” (non-verbal thinking). Khi đứa trẻ đă hoàn tất việc tạo dựng “thế giới trên cát”, nhà trị liệu với sự mẫn cảm cần phải khám phá những ư nghĩa (đối với trẻ) của những ǵ đă được tạo lập trên cát. Sự diễn giải cần phải được giữ lại không nói ra cho đến khi đứa trẻ đạt đến một sự “sẵn sàng về mặt cảm xúc” (emotional readiness) – vào chính thời điểm đó, cùng với kỹ năng diễn giải đúng của nhà trị liệu, tṛ chơi của trẻ sẽ thay đổi và một chủ đề mới sẽ xuất hiện (Lowensfeld, 1979). Tóm lại, Lowensfeld tin rằng khả năng suy nghĩ và nhu cầu cảm nhận những trải nghiệm đă có sẵn ngay từ khi trẻ được sinh ra, nhưng do ngôn ngữ không có đủ như một công cụ suy nghĩ nên trẻ phải tư duy bằng các h́nh ảnh.
Đặc trưng của tư duy tiền ngôn ngữ là cách thức mà nó tập hợp các thành tố lại với nhau... Trong tư duy tiền ngôn ngữ, các nhóm thành tố được tạo lập trên cơ sở một sản phẩm được chia sẻ duy nhất (only one shared property) thường dưới thức cảm giác, cảm xúc hoặc tri giác khi chúng được trải nghiệm một cách chủ quan... Cơ sở cho việc tập hợp các thành tố là “Làm thế nào mà các thứ này khiến tôi cảm thấy” Lowensfeld, 1979
Có những yếu tố trong công việc của Lowensfeld tương đồng với cách tiếp cận không hướng dẫn, chẳng hạn như trong phần lớn thời gian chơi trên cát, các chú giải của nhà trị liệu là những lời có tính mô tả chứ không phải là diễn giải. Tuy nhiên, phương pháp này chủ yếu dựa trên các nguyên lư phân tâm học. Cấu trúc rơ rệt của phiên trị liệu và sự khuyến khích trẻ chơi theo một cách thức chuyên biệt tương tự như liệu pháp của Levy, đồng thời sự diễn giải các nội dung mang tính biểu tượng là kỹ thuật mang đậm tính chất của Jung, từ đó cho thấy liệu pháp của Lowensfeld xuất phát từ truyền thống phân tâm hơn là từ Rogers.
LIỆU PHÁP CHƠI KỂ CHUYỆN (NARRATIVE PLAY THERAPY)
Cách tiếp cận này được cải biên từ cách tiếp cận kể chuyện của David Epston và Michael White (1992); nó có thể được áp dụng trong trị liệu cá nhân với một trẻ hoặc như một phần trong trị liệu hệ thống gia đ́nh. Nguyên lư nền tảng của liệu pháp là: cuộc sống con người được góp phần bởi những “câu chuyện” mà họ tự kể với chính ḿnh và những câu chuyện ấy tạo nên một khung tham chiếu mà từ đó người ta diễn giải về đời sống của ḿnh. Ở những cá nhân có vấn đề, nhiều câu chuyện đa dạng khác nhau sẽ trở nên một chuyện, hoặc tạo nên một thứ bản sắc (identity), từ đó trở nên nổi trội trong quan điểm của người đó khi xem xét chính ḿnh, cũng như sẽ ảnh hưởng lên trên cách người khác xem xét họ, đến nỗi bản thân họ và vấn đề của họ trở nên đúc kết thành một. Mục đích trị liệu là giúp tách bạch giữa thân chủ và vấn đề của họ, ngoại hiện nó sao cho thân chủ có thể kiểm soát được nó thay v́ bị ḥa lẫn vào nó.
Marner (2000) đă tŕnh bày nhiều ví dụ minh họa về cách thức mà những trẻ bị mắc các vấn đề như ỉa đùn hoặc sợ bóng đêm đă được khuyến khích xem các vấn đề này như những thứ ở bên ngoài con người của trẻ, chẳng hạn như là những con quái vật hoặc những người khổng lồ, đang cố kiểm soát đứa trẻ. Bằng cách trục xuất chúng (nhốt con quái vật vào hộp rồi ném đi), hoặc đánh lừa chúng, đứa trẻ có thể giảm bớt sự phó mặc của trẻ với vấn đề của ḿnh, rồi có thể bắt đầu kiến tạo lại những câu chuyện kể cá nhân hoặc những cách sống khác thú vị hơn.
Một phương pháp tiếp cận cũng sử dụng cách kể chuyện, nhưng với một cách thức và nền tảng lư thuyết hơi khác, đó là sử dụng những câu chuyện kể để giúp trẻ xử lư các cảm xúc của ḿnh cùng với một người lớn có tính thấu cảm. Một câu chuyện kể có tính trị liệu thường sử dụng trí tưởng tượng và thuật ẩn dụ nhiều hơn là những lời lẽ có tính tư duy với ư nghĩa thông tục thường ngày. Chuyện kể giúp giao tiếp với trẻ ở tầng mức sâu sắc hơn, c̣n lời nói thường ngày th́ có tính khô khan hoặc quá giản lược khiến cho những trải nghiệm của trẻ như thể bị “dát mỏng” đi và v́ thế sẽ không giao tiếp với trẻ một cách hiệu quả.
Ann Cattanach và cộng sự ở Anh phát triển cách tiếp cận chơi trị liệu cũng có phần rút ra từ liệu pháp kể chuyện nhằm giúp những trẻ em và người trẻ trải qua những sự kiện phức tạp trong đời sống. Bà viết:
Trẻ chơi, kể những câu chuyện về nội dung chơi và nhà trị liệu lắng nghe, hoặc cũng có thể đặt ra những câu hỏi để làm rơ ư nghĩa, và “bối cảnh hóa” câu chuyện xoay quanh những hoàn cảnh xă hội đang hiện diện trong đời sống đứa trẻ... Một số trẻ em và người trẻ cần đến những giải thích của nhà trị liệu về hoàn cảnh xă hội và những giải thích ấy được lồng vào trong chuyện kể và nội dung chơi... Chuyện kể thường không phải là những mô tả về những sự kiện thật trong đời sống mà là những câu chuyện liên quan đến đời sống tưởng tượng... Ann Cattanach, 2002.
LIỆU PHÁP CHƠI CÓ CẤU TRÚC (STRUCTURED PLAY THERAPY)
Đây là cách tiếp cận được hát triển bởi Oaklander (1978) trong khuôn khổ trị liệu theo kiẻu Gestalt. Nhà trị liệu sử dụng một số kỹ thuật một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hướng dẫn trẻ đi vào lănh địa của tṛ chơi thông qua đó nhà trị liệu có thể cùng với trẻ làm việc trên các trải nghiệm của trẻ. Các trải nghiệm này trước đó thường bị người lớn xem là “có vấn đề”; những nhà trị liệu khi thực hiện các khảo sát đánh giá trẻ cũng có thể có nhận định như vậy. Kỹ thuật chơi cũng như vật liệu chơi có thể thay đổi tùy theo cách đánh giá vấn đề ở trẻ; có thể bao gồm những việc như: sử dụng chiếc ghế trống, huyễn tưởng có hướng dẫn (guided fantasy), hoặc kể chuyện qua lại – trong đó nhà trị liệu nghe đứa trẻ kể một câu chuyện, sau đó đáp ứng lại bằng cách kể một câu chuyện cũng với cùng những nhân vật và sự kiện như thế nhưng bao gồm thêm những điều chỉnh lành mạnh hơn và có thêm giải pháp cho các xung đột. Công tŕnh của Oaklander rơ ràng có tính chất tưởng tượng và đầy tính sáng tạo. Những ư tưởng của bà sau đó cũng đă được sử dụng và cải biên bởi các tác giả khác ở Hoa Kỳ như Aldgate và Simmonds (1988).
Ở Anh, Redgrave cũng đă phát triển một cách tiếp cận mà ông gọi là “chăm – chữa” (care-therapy), trong đó có sử dụng những kỹ thuật có hướng dẫn (directive) và ông phân biệt nó với những liệu pháp chơi tự do (free- or non-focused play) (Redgrave, 1987). Dữ liệu hiện có cho thấy những liệu pháp chơi ở Anh đă chia sẻ nhiều tính chất đặc trưng của cách tiếp cận chơi trị liệu có cấu trúc và có trọng tâm của Redgrave. Redgrave cũng đă mô tả cách thức ông giúp trẻ em kềm chế những cơn giận, để trẻ có thể xem xét những “cách thức giải bày cơn giận hữu hiệu lẫn không hữu hiệu”, thông qua sử dụng cách vẽ tranh, các hoạt động, hoặc dùng cách minh họa một sơ đồ chiếc máy hơi nước để kiểm soát cơn giận.
CÁC CAN THIỆP LIÊN QUAN ĐẾN CHƠI (PLAY RELATED INTERVENTIONS)
Một số các hoạt động chơi cũng có thể được sử dụng để giúp trẻ và nhà trị liệu giao tiếp vói nhau hiệu quả hơn khi nói về những sự kiện khó khăn. Mục đích của cán thiệp này là nhằm để đánh giá đứa trẻ, hoặc để chuẩn bị cho trẻ đương đầu với những sự kiện khó khăn trong đời sống, chẳng hạn như chuẩn bị vào ở trong một cơ sở chăm sóc. Những can thiệp này cần phải được phân biệt với các liệu pháp chơi (play therapies). Trong liệu pháp chơi, các can thiệp được duy tŕ dài hạn và mục đích nhằm giúp trẻ đạt đến những thay đổi sâu hơn những chức năng về cảm xúc và xă hội.
CÁC KIỂU GIAO TIẾP LIÊN QUAN ĐẾN CHƠI (PLAY RELATED COMMUNICATIONS)
Một số tác giả (Redgrave, 1987, 2000; Williamson, 1990) đă mô tả một số cách can thiệp trong đó các vật liệu chơi được sử dụng để gia tăng khả năng giao tiếp của trẻ với người lớn và cũng giúp trẻ hiểu biết nhiều hon về các sự kiện. Do vậy, một số tác giả đă viện dẫn lư do này để có thể sử dụng các vật liệu như con rối, điện thoại đồ chơi hoặc các h́nh nhân trong nhà búp bê... để thực hiện các cuộc nói chuyện với trẻ em. Giả định cơ bản của cách tiếp cận này đó là: trẻ có thể chuyển vị (displace) những t́nh cảm của ḿnh hướng vào các vật liệu chơi và trẻ có thể giao tiếp với một con rối th́ ít cảm thấy lo âu hơn là khi nói chuyện trực tiếp với một người lớn. Trẻ nhỏ thường ít lời hơn người lớn và có thể t́m thấy phương tiện phi ngôn ngữ là cách giao tiếp dễ sử dụng hơn. Thông qua quan sát trẻ chơi, người lớn có thể dễ dàng hơn trong việc đánh giá mức độ hiểu biết của trẻ đối với một hoàn cảnh cụ thể nào đó. Redgrave đă mô tả như sau:
... Về những t́nh huống xă hội hoặc tâm lư – xă hội liên quan đến đứa trẻ, chúng ta có thể khám phá và cố gắng giải thích những sự việc ấy diễn ra như thế nào... Nhiều công cụ có thể được sử dụng để giúp trẻ đương đầu với những khía cạnh xă hội và tâm lư – xă hội trong hoàn cảnh sống hiện tại của trẻ. Bản đồ sinh thái (ecomap) và sơ đồ xă hội (sociogram) là những ví dụ... Redgrave, 1987.
Trong một trường hợp khác, khi sắp đặt nơi chốn lâu dài cho một đứa trẻ, Redgrave mô tả một tiến tŕnh “bắt cầu” (bridging) như sau:
... Đứa trẻ bắt đầu xây dựng cầu bằng cách đặt một số viên gạch ở hai đầu cầu. Ở một đầu chúng tôi đặt một vật tượng trưng cho trẻ, đầu cầu bên kia là vật tượng trưng cho người chăm sóc trẻ trong tương lai. Tuy nhiên, ngoài một số viên gạch đă được đặt vào, phần c̣n lại của cây cầu chỉ được thực hiện như một đường đứt quăng... Ư tưởng cần được trao đổi là trẻ sẽ sống với người chăm sóc và có những việc cần phải được bàn đến trước khi việc này xảy ra... Bằng cách sử dụng những viên gạch để bàn luận những ǵ cần bàn, trẻ và người chăm sóc sẽ xây nên một chiếc cầu và sau cùng đến được với nhau... (như trường hợp trẻ được một gia đ́nh nhận nuôi) Redgrave, 2000.
Cách tiếp cận giao tiếp với trẻ như trên sẽ trở nên quen thuộc với nhiều nhà trị liệu. Các đoạn trích dẫn trên đây nhằm nhấn mạnh sự khác biệt giữa chơi trị liệu và các hoạt động chơi có mục đích thực hiện các quan tâm chuyên biệt của ngựi lớn.
CHƠI ĐỂ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐÁNH GIÁ
Marvasti (1989) định nghĩa chẩn đoán thông qua chơi (play diagnosis) là “một kỹ thuật giúp trẻ bộc lộ các xung đột nội tâm, các huyễn tưởng, ước muốn và những nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh...” Các vật liệu chơi được chọn lựa cẩn thận để nhà trị liệu có thể tập trung nhiều vào những sự kiện có ư nghĩa trong đời sống của trẻ và có thể đánh giá được những tác động của những sự kiện đó lên nhân cách và quá tŕnh phát triển của trẻ. Việc sử dụng chơi để đánh giá dựa trên ư tưởng rằng trong khi chơi, đứa trẻ sẽ thể hiện ra bằng hành động (act out) những cảm xúc thật của trẻ, với sự hỗ trợ của một số cơ chế tự vệ mà chủ yếu là phóng chiếu, chuyển vị và biểu tượng hóa. Những nỗi lo âu và sự thúc ép thường gặp (như biểu hiện sự giận dữ với đứa em mới sinh hoặc phát hiện những hành động quấy rối hoặc đe dọa của một người lớn) sẽ không vận hành bởi v́ những cảm xúc này sẽ được phóng chiếu và chuyển vị lên các vật liệu chơi. Do vậy, những hoạt động thực hiện trên những con búp bê sẽ dễ dàng hơn là trên những đứa trẻ thực.
Trong buổi chơi, Jimmy bố trí một gia đ́nh búp bê phía bên ngoài ngôi nhà (dollhouse). Sau đó, búp bê mẹ mang ra một chú chó con khiến cả gia đ́nh chú ư đến. Lát sau, một con quái vật xuất hiện và bắt cóc chú cún mang đi... Marvasti, 1989.
Tṛ chơi trên đây thể hiện nỗi oán giận của Jimmy đối với sự xuất hiện của một cô giữ trẻ trong gia đ́nh cùng với sự giận dữ mà nó đang cảm thấy. Các xung động hủy hoại của đứa trẻ đối với cô giữ trẻ được giả định là đă được chuyển vị vào con quái vật. Ngoài ra, Jimmy cũng có thể sử dụng cơ chế biểu tượng hóa; có thể giả định rằng trẻ đă dùng chú chó con để thay thế cho cô giữ trẻ.
Điều được thấy rơ trong ví dụ trên đó là trong khi chơi trẻ thường bận tâm về những ǵ xảy ra trong thực tại nội tâm, nghĩa là cách trẻ nhận thức về các sự kiện, nhiều hơn là những ǵ xảy ra trong thực tế khách quan. Thực tại nội tâm của trẻ, thông qua những nhu cầu và nỗi sợ hăi, có thể là h́nh ảnh bị bóp méo của thực tế khách quan. Một trong những công việc quan trọng của nhà thực hành là phải diễn giải những nội dung chơi của trẻ, hiểu được những ư nghĩa mang tính biểu tượng của nó và phân biệt rơ những ǵ xảy ra trong tṛ chơi của Jimmy với những việc thực sự xảy ra trong môi trường sống của trẻ. Trong khi đó nếu buổi chơi được thực hiện một phần để đánh giá những nhu cầu trị liệu của trẻ, mối quan tâm chủ yếu là phải xác định được thực tại nội tâm và những nhận thức của trẻ về những sự kiện và các mối quan hệ quan trọng trong đời sống.
Chơi để chẩn đoán và các can thiệp liên quan đến chơi có cùng những giả định và v́ thế cùng lư do để sử dụng. Chẳng hạn nhà trị liệu có thể sử dụng con rối để khảo sát khả năng đứa trẻ có thể bị xâm hại bởi v́ khi nói ra câu chuyện của ḿnh thông qua những con rối trẻ sẽ ít cảm thấy e sợ hơn; nói cách khác khi sự kiểm duyệt do trao đổi bằng lời nói bị dỡ bỏ, trẻ có thể chuyển vị những cảm xúc và hành động của ḿnh lên trên con rối. Chơi là hương tiện giao tiếp của trẻ nhỏ, trẻ thiểu năng hoặc những người trẻ có những hạn chế về khả năng ngôn ngữ và tŕnh độ nhận thức. V́ thế, trước khi trẻ có được khả năng tự duy trừu tượng và sự lưu loát về ngôn ngữ để diễn đạt các trải nghiệm, trẻ sẽ sử dụng các vật tượng trưng dễ dàng hơn khi dùng lời nói (chẳng hạn cái cây tượng trưng cho lịch sử quá khứ của một gia đ́nh). Việc sử dụng chơi ở đây được dựa trên giả định rằng hoạt động chơi là một lĩnh vực tư duy ít chịu sự kiểm duyệt và nó phù hợp với tŕnh độ phát triển về trí tuệ, cảm xúc và nhận thức của trẻ.
Trong chơi để chẩn đoán có sự phát huy tối đa khả năng chơi tự do của trẻ và việc chẩn đoán cũng phụ thuộc phần lớn vào khả năng của nhà trị liệu trong việc quan sát, đánh giá và diễn giải các hoạt động chơi của trẻ. Mặc dù các vật liệu chơi được chọn lựa cẩn thận, các kỹ thuật trong chơi để chẩn đoán ít có tính hướng dẫn hơn các h́nh thức giao tiếp liên quan đến chơi như đă mô tả ở phần trên.
II. LIỆU PHÁP CHƠI KHÔNG HƯỚNG DẪN
Liệu pháp chơi không hướng dẫn được phát triển một cách đầy đủ nhất là bởi Virginia Axline thông qua hai quyển sách xuất bản năm 1946 và 1987, cùng một loạt các bài viết và công tŕnh nghiên cứu về chơi trị liệu. Mặc dù cùng thời gian nhiều tác giả khác cũng có đề cập đến loại h́nh tiếp cận này như Allen (1942), Dorfman (1976) và Moustakas (1953), Axline vẫn được xem là tác giả tiêu biểu nhất. Tác phẩm đầu tiên (Axline, 1946) là sự cống hiến của bà trong một nghiên cứu về trường hợp một đứa bé sáu tuổi, Dibs. Quyển sách đă thu hút nhiều độc giả như một báo cáo đầy đủ về một mối quan hệ trị liệu, những cách thức mà một đứa trẻ thông qua chơi có thể đạt được khả năng giải quyết vấn đề và làm chủ các xung đột nội tâm của ḿnh. Trong quyển sách thứ hai (Axline, 1987), bà đă nêu ra 8 nguyên tắc thực hành cho những nhà trị liệu chơi không hướng dẫn cùng những ví dụ về những t́nh huống thường xảy ra trong phiên trị liệu.
Công tŕnh của Axline gây được những ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực thực hành chơi trị liệu. Nhiều tác giả khác, mặc dù không tán thành cách tiếp cận không hướng dẫn, vẫn thừa nhận giá trị từ những ư tưởng của Axline đối với công việc của họ. Winnicott, khi bàn đến những trải nghiệm có thực một cách sâu đậm mà trẻ có được thông qua chơi đă b́nh luận như sau:
Quan sát này giúp chúng ta hiểu được cách thức làm thế nào mà tâm lư trị liệu chiều sâu có thể thực hiện được mà không cần có sự diễn giải. Một ví dụ cho điều này là công tŕnh của Axline (1987) ở New York... Tôi đánh giá cao công tŕnh của Axline theo một cách thức đặc biệt bởi v́ nó đă kết nối với điều mà tôi đă nêu khi báo cáo về một thời điểm khi đứa trẻ tự ngạc nhiên về chính bản thân ḿnh... Đó không phải là thời điểm khi mà kỹ thuật diễn giải thông thái của tôi có ư nghĩa... Winnicott, 1988
Tuy nhiên, khi tổng lược tài liệu về chơi trị liệu, mặc dù vẫn được tham khảo và trích dẫn rộng răi măi cho đến gần đây, mô h́nh tiếp cận của Axline đă thất bại trong việc h́nh thành một trường phái tư tưởng với phương pháp luận đầy đủ hơn và chặt chẽ hơn. Ngoài ra, chức năng của chơi trong tiến tŕnh trị liệu và sự liên hệ của chơi với sự phát triển tinh thần và cảm xúc cũng chưa được phân tích đủ.
Chơi trị liệu được dựa trên một thực tế rằng chơi là môi trường tự nhiên để đứa trẻ tự thể hiện bản thân. Đó chính là cơ hội để trẻ bộc lộ ra qua chơi (“play out”) những cảm xúc và vấn đề của trẻ; cũng giống như một số loại liệu pháp ở người lớn, một cá nhân có thể nói ra (“talk out”) các khó khăn của ḿnh Axline, 1987
Gần đây, việc thực hành liệu pháp chơi không hướng dẫn đă được xem xét lại và được cập nhật, với những nền tảng lư thuyết và các thủ tục cũng trở nên chuyên biệt hóa chặt chẽ hơn. Nhiều nghiên cứu về tính hiệu quả của liệu pháp đă được thực hiện, phần lớn là tại Hoa Kỳ. Nhiều nghiên cứu cho thấy liệu pháp chơi không hướng dẫn là có hiệu quả nhất là khi có sự tham gia của phụ huynh vào tiến tŕnh trị liệu và thời gian trị liệu ở mức tối ưu (Ray và cs., 2000). uy nhiên, vẫn cần có thêm nhiều nghiên cứu trên những cỡ mẫu lớn hơn, với những nhóm đối chứng, cũng như hiểu thêm về hiệu quả của liệu pháp chơi không hướng dẫn chẳng hạn như khi nào, trong hoàn cảnh nào và với vấn đề ǵ th́ liệu pháp sẽ có mức độ thành công cao nhất.
NGUYÊN LƯ VÀ THỰC HÀNH
Liệu pháp chơi không hướng dẫn bắt nguồn từ những nguyên lư cơ bản của tâm lư trị liệu theo trường phái Rogers. Nguyên lư trung tâm của trường phái này chính là xem con người tự bản thân ḿnh đă có sẵn khuynh hướng đạt đến chức năng sống lành mạnh hơn và tốt hơn, từ đó có khả năng tự giải quyết các vấn đề của ḿnh một cách thỏa đáng khi có được cơ hội và bầu khí thích hợp để thực hiện điều đó. Rogers xem nhà trị liệu có vai tṛ tạo nên những điều kiện tốt như thế để giúp thân chủ “tự hiện thực hóa” bản thân họ. Ông cũng tin rằng có những tính chất đặc trưng cốt lỏi để một nhà trị liệu có thể làm việc này trong thực tế bao gồm: sự trung thực, ḷng nhiệt t́nh không chiếm hữu và khả năng thấu cảm đúng đắn.
Thêm vào đó, trong một mối quan hệ trị liệu hiệu quả, nhà trị liệu c̣n có khả năng đáp ứng lại với những điều thân chủ đang nói, phản ảnh lại cho thân chủ biết rằng nhà trị liệu đă hiểu được những ǵ thân chủ đang trải nghiệm. Thông qua sự phản ảnh đúng đắn của nhà trị liệu, thân chủ sẽ nhận ra những cảm xúc của ḿnh và trở nên làm chủ đối với chúng.
Phản ảnh là kỹ thuật được sử dụng trong thời điểm hiện tại, không có tính chất diễn giải; nó sử dụng lại những tư liệu mà thân chủ đang tŕnh bày và không cố gắng liên hệ những tư liệu hiện tại với những sự kiện đă xảy ra trong quá khứ. Axline định nghĩa phản ảnh như là “soi gương lại những cảm xúc và tâm trạng” giống như cách nhà trị liệu giao tiếp bằng những h́nh ảnh ẩn dụ mà thân chủ đă sử dụng. Phản ảnh v́ thế không giống với kỹ thuật được sử dụng trong thuật phân tâm. Trong trị liệu phân tâm, thân chủ nói và làm; nhà trị liệu th́ diễn giải và chuyển những h́nh ảnh ẩn dụ thành điều mà nhà trị liệu nghĩ rằng thân chủ dường như đang muốn thể hiện. Trong trị liệu cho người lớn, các “nội dung” có thể được nói thành lời; c̣n với trẻ em, các ẩn dụ thường là nội dung chơi, tuy không luôn nhất thiết là thế.
TÁM ĐIỀU HƯỚNG DẪN CỦA AXLINE
Axline, 1987: 73-74
Axline cũng nhấn mạnh rằng liệu pháp không hướng dẫn là một tiến tŕnh hợp nhất, trong đó mỗi nguyên lư nêu trên có tính đan xen và tương quan phụ thuộc với các nguyên lư khác. V́ thế khi nhà trị liệu có ḷng tin vào sức mạnh của thân chủ trong việc tự giải quyết vấn đề sẽ mang lại khả năng chấp nhận thân chủ như chính con người vốn có của họ, sẵn sàng cho phép thân chủ lựa chọn và sẵn ḷng tôn trọng các quyết định của họ. Tuy nhiên, sự chấp nhận như thế không có nghĩa là nhà trị liệu chỉ là một người quan sát thụ động trong các phiên trị liệu. Nhà trị liệu phải có khả năng tham gia tích cực, tạo lập bầu khí sao cho thân chủ có thể làm rơ các vấn đề và khám phá khả năng của họ. Điều làm cho liệu pháp này khác biệt với những cách thức can thiệp và các liệu pháp khác chính là bản chất “không hướng dẫn”. Chính đứa trẻ là người chọn lựa các trọng tâm và chủ đề khi chơi trong pḥng trị liệu, bên trong những ranh giới, khuôn khổ được vạch ra một cách cẩn thận Vai tṛ của nhà trị liệu là tạo lập nên một mối quan hệ thân t́nh và tin cậy lẫn nhau, phản ảnh và đáp ứng lại các ư nghĩ, cảm xúc và hoạt động theo cách sao cho trẻ có thể tự giải quyết các vấn đề cảm xúc của ḿnh bằng chính cách thức mà trẻ lựa chọn và xảy ra với nhịp độ của chính đứa trẻ đang thực hiện. Khác với những liệu pháp khác, sự phản ảnh mà nhà trị liệu thực hiện không bao gồm sự khen thưởng, diễn giải hoặc thách thức. Các giới hạn trong pḥng trị liệu phải được thiết lập. Nhà trị liệu phải đảm nhận trách nhiệm của một người lớn trong việc bảo đảm sự an toàn cho trẻ, ǵn giữ vật liệu chơi, pḥng chơi và ẩn định khuôn khổ thời gian làm việc. Bên trong những giới hạn được thiết lập rơ ràng như thế, bầu khí của pḥng chơi trị liệu phải thực sự thư giăn. Hành vi và cách giao tiếp của nhà trị liệu phải tạo nên nơi trẻ những cảm nhận về sự an toàn và tin cậy, từ đó nếu trẻ muốn, trẻ sẽ tự do giải bày và khám phá các chủ đề nổi trội trong cảm xúc của trẻ.
TÓM TẮT
ĐIỂM CHUNG TRONG CÁC CÁCH TIẾP CẬN
- Mối quan hệ trị liệu tạo nên bối cảnh cho phép sự giải bày cảm xúc - Cần nhận diện chức năng và những ư nghĩa mang tính biểu tượng của nội dung chơi, cùng với những cách thức mà chơi được sử dụng để bộc lộ các ước muốn, huyễn tưởng, các xung đột nội tâm và sự nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh. - Tạo cơ hội cho việc xử lư lại các sang chấn, các sự kiện hoặc các trải nghiệm gây vấn đề nơi trẻ. - Mang lại những trải nghiệm mới đă được điều chỉnh trong bối cảnh chơi. - Tạo điều kiện để giảm nhẹ hoặc khơi thông những cảm xúc bị đè nén hoặc tbế tắc mà điều này tự nó đă có tính trị liệu. - Tạo cơ hội để phát triển khả năng làm chủ các cảm xúc, và đến một mức độ nào đó, có thể nhận biết được chúng. - Khả năng làm chủ cảm xúc đến phiên nó lại giúp trẻ cải thiện những kỹ năng ứng phó nói chung. - Trị liệu được xem là việc giúp trẻ cải thiện ḷng tự trọng, sự tự tin, cải thiện h́nh ảnh bản thân và ḷng tin vào người khác.
NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA LIỆU PHÁP CHƠI KHÔNG HƯỚNG DẪN - Chuẩn bị cẩn thận để giúp trẻ có ḷng tin vào việc trị liệu - Xây dựng một mối quan hệ sâu sắc, tin cậy và có tính chấp nhận - Cho phép trẻ tự lựa chọn chủ đề và các trọng tâm trong hoạt động chứ không do nhà trị liệu lựa chọn sẵn - Nhà trị liệu có khả năng thấu cảm và phản ảnh lại những cảm xúc, những ư nghĩ theo một cách thức không gây sợ hăi cho trẻ - Nhà trị liệu sử dụng chính những cảm xúc và ư nghĩ của ḿnh một cách hài ḥa để đáp ứng lại với những hành vi và cảm xúc mà trẻ thể hiện - Thiết lập những giới hạn về hành vi của trẻ sao cho những giới hạn này uyển chuyển tùy theo tŕnh độ phát triển và cảm xúc của trẻ
|
|
|
Địa chỉ liên hệ:
|
||