|
V̀ MỤC ĐÍCH PHÁT TRIỂN CHUYÊN NGÀNH TÂM LƯ TRỊ LIỆU TẠI VIỆT NAM |
||
|
GIỚI THIỆU
Tác giả Dành cho thân chỦ
Thư gửi quư độc giả BÀI VIẾT
Chuyên đề GIÁO TR̀NH - TÀI LIỆU Đề cương
Học phần đại cương Tài liệu
Bài giảng tâm lư trị liệu
|
www.tamlytrilieu.com
The Rituals of Anorexia Nervosa Nguyên tác: Mara Selvini Palazzoli
Trích từ tác phẩm The Work of Mara
Selvini Palazzoli http://www.ralphmag.org/palazzoli.html
NHỮNG NGHI THỨC CỦA CHỨNG CHÁN ĂN TÂM CĂN
BS NGUYỄN MINH TIẾN dịch
Bài viết này được thực hiện bởi Mara Selvini Palazolli, một trong số những tác giả nổi danh thuộc trường phái Milan - một trường phái tâm lư trị liệu hệ thống tại Ư. Chúng tôi giới thiệu bài viết này cho những người học có quan tâm đến tâm lư trị liệu theo quan điểm hệ thống (systems perspective), một quan điểm có vai tṛ ngày càng phát triển trong các trào lưu tâm lư trị liệu hiện nay trên thế giới. Trong những dịp khác, chúng tôi sẽ tiếp tục giới thiệu thêm những bài viết có liên quan đến quan điểm này để phục vụ người học tại Việt Nam. (Tp.HCM, tháng 11-2011)
Theo lư thuyết hệ thống, gia đ́nh được trị liệu trong một tổng thể không đơn giản chỉ là tổng số những tính chất đặc trưng của các thành viên của gia đ́nh đó. Điều làm nên tính chất đặc trưng của một gia đ́nh chính là những mô h́nh tương tác đặc hiệu mà gia đ́nh đó đang phản ảnh.
Mỗi gia đ́nh được xem như một hệ thống tương tác và những mô h́nh tương tác ấy có khuynh hướng thường xuyên lập đi lập lại mà đôi khi có thể diễn ra đến mức dư thừa. Quan sát sự biểu hiện dư thừa ấy cho phép suy nghiệm ra những quy luật (thường là dưới h́nh thức bí mật và ẩn ngầm) đang chi phối sự vận hành chức năng của một gia đ́nh trong một khoảng thời gian nhất định nào đó để duy tŕ tính ổn định của gia đ́nh đó.
Nếu chúng ta định nghĩa gia đ́nh là một hệ thống tự vận hành (self-governing system) dựa trên những quy luật được thiết lập thông qua một loạt các phép thử và sai, khi đó các thành viên trong gia đ́nh trở thành những phần tử của một đường tṛn mà không một phần tử nào có thể đơn phương kiểm soát những phần tử c̣n lại. Nói cách khác, nếu hành vi của một thành viên nào đó trong gia đ́nh tạo nên những ảnh hưởng thái quá trên hành vi của những thành viên khác, th́ sẽ là một sai lầm về nhận thức luận khi cho rằng hành vi của người đó là nguyên nhân gây ra hành vi của những người khác; thay v́ thế chúng ta phải nói rằng hành vi của người đó là hậu quả của những mô h́nh tương tác trong quá khứ. Nghiên cứu về kiểu tương tác gia đ́nh như thế, do vậy, là sự nghiên cứu về các đáp ứng hành vi đă được cố kết và những phản ứng dội lại của chúng.
Chúng ta đă nói về một sai lầm về nhận thức luận (epistemological error) – điều này bắt nguồn từ việc mô h́nh hành vi bị tách rời một cách vơ đoán ra khỏi bối cảnh thực tế của những mô h́nh xảy ra trước đó mà từ những mô h́nh ấy đă sinh ra một chuỗi các tương tác vô tận.
Khi nói đến từ “nhận thức luận”, tôi không hề có ngụ ư nói về một thứ chuyên ngành huyền bí được lưu truyền bởi các triết gia. Mỗi người trong chúng ta, với phần bản thể độc đáo mà ḿnh có trong thế gian để chia sẻ với người khác, chắc chắn sẽ chọn một vị thế phù hợp nhất với cách thức hiện hữu của ḿnh, do vậy sẽ chấp nhận một kiểu nhận thức luận nào đó.
Một lần nữa, khi tôi nói về một sai lầm nhận thức luận hoặc một niềm tin không hay nào đó nghĩa là tôi đang nói một cách công khai về một sai lầm thường thấy trong văn hóa hiện đại (và v́ thế cũng thường thấy trong ngành tâm thần học) của Phương Tây: đó là ư tưởng cho rằng có một cái “ngă” có khả năng vượt lên trên hệ thống các mối quan hệ mà ngă là một phần trong đó và từ đó có thể đơn phương kiểm soát được hệ thống đó.
Do vậy, những mô h́nh hành vi chẳng hạn như việc một người được xem là nạn nhân trở nên bị mất đi quyền hạn th́ cũng không hẳn là có ư nói “các kích thích nhiều hơn là các đáp ứng”. Nói cách khác, cả hai phía trong mối tương giao ấy đều bị sai lầm – kẻ có quyền hạn tự tin vào sự toàn năng của ḿnh cũng sai lầm không kém hơn nạn nhân rơ ràng đang yếu thế hơn.
Nếu cả hai phía đều sai lầm vậy th́ đâu mới là quyền lực thực sự? Quyền lực thực sự nằm trong quy luật của tṛ chơi xảy ra trong bối cảnh thực tế của các đáp ứng hành vi của tất cả các vai diễn chính trong tṛ chơi ấy mà không ai trong số họ có khả năng thay đổi “luật chơi” từ bên trong.
Bằng cách xem bệnh nhân là “nạn nhân giả hiệu” (pseudo-victim), chúng ta đang tránh đi vào lối ṃn của tâm thần học kiểu đạo đức (moralistic psychiatry). Dường như rằng R. D. Laing và trường phái của ông, do đă thừa nhận sự phân biệt của Sartre giữa “thói lệ” (praxis) và “tiến tŕnh” (process), cũng đă thực sự bị rơi vào chiếc bẫy đạo đức này. Trái ngược lại, chúng tôi làm trị liệu gia đ́nh như một hệ thống trong đó không có cá nhân nào có thể đơn phương nắm quyền kiểm soát các thành viên c̣n lại, khi đó thói lệ và tiến tŕnh trở thành đồng nghĩa với nhau. “Kẻ gây hại” (persecutor) và “nạn nhân” (victim) đều thực hiện nhiều động thái trong cùng một cuộc chơi mà những quy luật của nó không ai có thể thay đổi được từ bên trong; tất cả những thay đổi đều phụ thuộc vào những can thiệp có tính chiến lược từ bên ngoài.
Trong trường hợp một gia đ́nh có một bệnh nhân bị chứng chán ăn, chúng tôi phát hiện ra một sai lầm nhận thức hiện diện trong cả gia đ́nh rằng bệnh nhân, do bởi triệu chứng được biểu hiện nơi người đó, đang nắm giữ quyền lực đối với những người c̣n lại trong gia đ́nh và khiến họ trở nên vô dụng. Chỉ cần một cái nh́n nhanh trong phiên trị liệu đầu tiên, chúng tôi nhận ra nét mặt đau khổ của cha mẹ người bệnh, c̣n người bệnh th́ ngồi tách xa ra khỏi những người khác, thẳng như một pho tượng, xanh xao và xa cách, vẻ mặt của cô bệnh nhân hoàn toàn bàng quan đối với những nỗi lo buồn của người khác. Hành vi của cô là một thông điệp rất rơ ràng, đặc biệt là dành cho nhà trị liệu:
Nếu các người nghĩ rằng các người có thể bắt tôi ăn, các người sẽ phải suy nghĩ lại. Hăy nh́n tôi đi: tôi chẳng có ǵ ngoài da bọc xương và tôi có thể chết rất dễ dàng. Và nếu cái chết có cái giá để trả cho quyền lực của tôi th́ tôi sẽ sẵn ḷng chi trả.
Điều này cho thấy rằng bệnh nhân hoàn toàn đánh giá sai t́nh huống của chính ḿnh. Khởi đầu, cô đă “làm mồi” cho thuyết lưỡng phân tai hại theo kiểu Descartes: Cô tin rằng tâm trí của cô vượt lên trên thân thể của ḿnh và nó ban cho cô những quyền năng vô hạn đối với hành vi của chính cô cũng như của những người khác. Kết quả là đă có một sự “vật thể hóa” (reification) của bản ngă và một niềm tin sai lầm rằng bệnh nhân đang tham gia vào cuộc chiến vinh quang trên cả hai mặt trận có tên gọi là (1) cơ thể của cô và (2) hệ thống gia đ́nh.
Sai lầm này giờ đây không thể được gọi tên như một bệnh lư tâm thần, nếu như bệnh nhân chấp nhận nó một cách có ư thức và nếu cô thực sự mở ḷng tuyên bố rằng cô sẽ không ăn cho đến khi cô có được điều ḿnh muốn. Điều này có thể sẽ tạo nên một sự lựa chọn hữu lư về phần cô, chứ không phải bằng một chứng bệnh tâm trí. Thay v́ vậy, người bệnh mắc chứng chán ăn đă châm chọc mạnh vào quy luật của gia đ́nh rằng không một ai có thể tự nhân danh để sử dụng quyền hạn của ḿnh. Đó cũng chính xác là lư do v́ sao cô đă lấy được quyền lực của ḿnh từ một thứ rất trừu tượng: căn bệnh của ḿnh. Chính căn bệnh mới nắm giữ quyền lực, làm hao gầy cơ thể cô và khiến những người khác đau buồn. Giống như mọi triệu chứng bệnh về tâm trí, triệu chứng chán ăn cũng là một nghịch lư bị giao động giữa hai ảo cực: tính tự nhiên (spontaneity) và sự cưỡng ép (coercion).
Việc này làm phát sinh vấn đề sau đây: Liệu triệu chứng cho thấy rằng người bệnh không muốn ăn (tính tự nhiên) hoặc khác hơn nó cho thấy rằng cô không thể ăn (sự cưỡng ép)? Nếu sử dụng quan điểm nhận thức luận mà ta vừa phác họa, ta phải trả lời câu hỏi trên một cách khẳng định chắc chắn. Tuy nhiên, bản thân người bệnh chán ăn lại khăng khăng rằng chỉ điều thứ hai là đúng, rằng thực sự cô không thể ăn được.
Để giải quyết những trường hợp bệnh như thế, nhà trị liệu do vậy cần lưu tâm đặc biệt đến những điều sau:
1. Có sự nhận thức sai lầm đang được chia sẻ bởi tất cả những thành viên trong gia đ́nh rằng bệnh nhân đang đơn phương kiểm soát toàn bộ hệ thống 2. Niềm tin của người bệnh rằng bản ngă (tâm trí) của cô có thể vượt lên trên cơ thể cô và hệ thống gia đ́nh của cô; và rằng cô có thể thành công trên cả hai cuộc chiến với cơ thể cô và với gia đ́nh cô. 3. Thực tế là một cuộc chiến như thế không bao giờ được tiến hành ở người bệnh, nhưng nó lại nhân danh bởi một thứ trừu tượng tức là căn bệnh mà người bệnh không có khả năng nhận lănh trách nhiệm; và 4. Thực tế là thứ trừu tượng kia (căn bệnh) được xem là “con quỷ xấu xa” bởi v́ nó khiến cho tất cả những người liên quan phải đau khổ.
Nhà trị liệu phải tùy cơ định liệu các chiến lược của ḿnh và đặc biệt ông phải nhắm đến việc điều chỉnh những niềm tin sai lầm đang tiềm ẩn bên dưới tất cả những hiện tượng này. Nhưng nhà trị liệu làm điều đó như thế nào? Bằng những bàn luận hàn lâm, bằng cách thông tin về sự thấu hiểu của ḿnh, hay là bằng những lời b́nh phẩm? Nếu nhà trị liệu chọn một trong số những tiến tŕnh làm việc này, ông ta hẳn sẽ bị cự tuyệt (nguyên văn: “be sent away with a flea in his ear”). Điều trước tiên mà nhà trị liệu cần làm là đưa tất cả các thành viên trong gia đ́nh trở về trên cùng một b́nh diện, nghĩa là sắp xếp họ vào các vị trí tương xứng nhau bên trong hệ thống. Trong khi quan sát các mô h́nh giao tiếp nổi trội ấy và tránh những cố gắng tham gia vào những quá tŕnh quy lỗi qua lại giữa các thành viên, nhà trị liệu sẽ tạo nên một khởi điểm cho việc chứng minh một cách công khai về tất cả những mô h́nh hành vi tương tác mà ông đă quan sát. Chúng tôi gọi kiểu can thiệp này là “sự hàm ư có tính tích cực” (positive connotation), và nhà trị liệu phải mở rộng sự hàm ư này thậm chí sang cả các mô h́nh hành vi mà theo lư thuyết phân tâm truyền thống cho là nguy hại hoặc có tính hủy hoại. Mặc dù có thể khó chịu khi quan sát thấy những việc như sự bảo bọc quá đáng, sự xâm phạm và nỗi sợ của cha mẹ đối với tính tự chủ của con, nhà trị liệu vẫn luôn luôn phải mô tả chúng như là sự thể hiện của t́nh yêu thương, hoặc như sự thể hiện một mong ước có thể hiểu được nhằm duy tŕ sự nguyên vẹn của một gia đ́nh trước những áp lực hoặc đe dọa bị tan ră mất.
Với cách thức tương tự, nhà trị liệu cũng phải đưa ra những hàm ư tích cực về triệu chứng của người bệnh. Trong việc này, nhà trị liệu sẽ sử dụng những chất liệu mà ông đă thu thập được để chứng minh rằng bệnh nhân vẫn tiếp tục “hy sinh bản thân”, mặc dù việc này xảy ra không chủ ư, cho một mục đích hoàn toàn vô vụ lợi: cho đại nghĩa duy tŕ sự toàn vẹn của gia đ́nh.
Bước đầu tiên, cũng là bước cơ bản, trong khi thực hành việc đưa ra những ư nghĩa tích cực th́ chứa đầy những thông điệp ẩn ngầm như sau:
1. Nhà trị liệu phải bảo đảm và chắc chắn ở vào vị thế nổi trội trong thang bậc quyền lực khi làm việc với gia đ́nh, như một người điều hành được chấp thuận (approving authority), có thể giải thích được động cơ của sự chấp thuận ấy và không nghi ngờ ǵ về tính hợp lư của nó. 2. Nhà trị liệu phải cho thấy cả gia đ́nh đang cùng đi vào một cuộc hành tŕnh t́m kiếm chung, đó là bảo tồn sự toàn vẹn và ổn định cho gia đ́nh ḿnh. Tuy nhiên, việc đưa ra hàm ư tích cực lại phải bắt đầu bằng sự tŕnh bày một điều vô lư đang tiềm ẩn ở đây: Làm thế nào mà một điều rất đỗi b́nh thường và tuyệt vời như sự toàn vẹn của gia đ́nh lại phải trả bằng một cái giá quá đắt như chứng chán ăn? 3. Nhà trị liệu nhẹ nhàng định lại vị thế của bệnh nhân từ chỗ quen thuộc đang có sang một vị thế có tính bổ sung hơn trong “cuộc chơi” của gia đ́nh, và trong khi làm thế, nhà trị liệu sẽ tuần tự thay đổi vai tṛ của tất cả các thành viên bên trong gia đ́nh: ông chỉ ra cho mọi người thấy rằng bệnh nhân là người quá nhạy cảm và rộng lượng đến mức cô không thể không hy sinh bản thân ḿnh cho gia đ́nh, trên cả mức độ mà người khác có thể hy sinh bản thân họ cho cùng một mục đích như vậy. 4. Nhà trị liệu tiếp tục nhấn mạnh vào tính chất thúc ép của triệu chứng (“bệnh nhân không thể không hy sinh bản thân ḿnh”), nhưng vẫn phải cẩn thận nếu xem nhẹ những tác động có hại của việc xem triệu chứng như là điều có lợi cho toàn bộ hệ thống. Cùng lúc đó, nhà trị liệu cũng phải định nghĩa những mô h́nh hành vi của các thành viên khác như là những “triệu chứng” (họ cũng “không thể không là chính họ” nếu gia đ́nh vẫn ở cùng với nhau) và cho những “triệu chứng” ấy những hàm nghĩa tích cực.
Cách thức nêu trên giờ đây sẽ mở ra bước kế tiếp có tính quyết định trong trị liệu: đó là sự nghịch lư mang tính trị liệu (therapeutic paradox). Triệu chứng khi được xác định là điều thiết yếu cho sự ổn định của gia đ́nh sẽ được nhà trị liệu khuyến cáo là hăy tiếp tục (gọi là sự “kê đơn nghịch lư một triệu chứng”): trong đó bệnh nhân được khuyên hăy tiếp tục hạn chế ăn uống, ít nhất là trong thời gian hiện tại. Những người thân của cô cũng được hướng dẫn để duy tŕ các mô h́nh hành vi quen thuộc của họ.
Việc này dẫn đến kết quả là một t́nh huống trong đó ít nhiều thể hiện sự nghịch lư mà điều trước tiên được thấy rơ là: gia đ́nh đă đến xin ư kiến nhà trị liệu và tất cả những ǵ nhà trị liệu làm sau đó không chỉ là sự thừa nhận về triệu chứng mà c̣n “kê đơn” hăy tiếp tục triệu chứng đó!
Tuy nhiên, nhà trị liệu thông qua cách kê đơn triệu chứng lại có ngụ ư chối bỏ nó. Nhà trị liệu kê đơn triệu chứng như thể đó là một hành động tự nhiên mà người bệnh lại không thể thực hiện một cách tự nhiên, điều đó chính xác là v́ cô ấy “đă được kê đơn rồi”. Với cách ấy người bệnh bị đưa vào một góc kẹt mà cô ấy chỉ có thể thoát ra bằng cách nổi loạn chống lại nhà trị liệu, nghĩa là bằng cách vứt bỏ triệu chứng của ḿnh đi. Trong trường hợp đó, cô ấy sẽ trở lại phiên trị liệu kế tiếp với bộ dạng trông khá hơn, chỉ để thấy rằng nhà trị liệu đă thất bại trong việc khiển trách cô (v́ đă không tuân theo sự kê đơn) – và đây lại là một sự nghịch lư khác.
Một loạt các chuyển động diễn ra với ba người trong phiên trị liệu đầu tiên một cách thành công đến nỗi sau đó họ sớm rời bỏ triệu chứng của ḿnh. Tuy nhiên, nói chung chúng tôi ưa thích chọn cách can thiệp từ từ nhiều hơn. Các can thiệp có tính chiến thuật và chủ động được thiết kế để gợi mở cho những đáp ứng có ư nghĩa từ phía gia đ́nh, nhưng khi trị liệu tiến triển, và với sự thông hiểu được những nhận thức luận sai lầm nào đang chi phối t́nh trạng loạn chức năng của gia đ́nh ấy, chúng tôi tiếp tục hoạch định nên những chiến thuật can thiệp khác.
Điều quan trọng nhất và hiệu quả nhất của các can thiệp này là nó phải tuân thủ một cách chặt chẽ mô h́nh điều khiển học (cybernetic model). Việc này cần đến sự “kê đơn” những nghi thức gia đ́nh (family rituals). Tôi xin đơn cử hai ví dụ cụ thể:
Gia đ́nh thứ nhất mà chúng tôi áp dụng chiến lược can thiệp này không phải là gia đ́nh có bệnh nhân bị chán ăn, mà là một gia đ́nh có đứa con trai sáu tuổi rưỡi có biểu hiện hành vi gây hấn đến mức giáp ranh với t́nh trạng loạn tâm. Tôi nêu trường hợp này ở đây do bởi đó là một ví dụ khá rơ ràng.
Đứa trẻ, với điện năo đồ thể hiện t́nh trạng sang thương năo tối thiểu (minimal brain damage), được chuyển đến để làm liệu pháp gia đ́nh sau khi nhà trị liệu phân tâm trẻ em từ chối không điều trị tiếp cho trẻ. Đứa trẻ dường như hoàn toàn không thể tiếp cận được bằng phương pháp phân tâm, và hơn nữa trẻ cũng biểu hiện sự thù địch đến mức không chịu nỗi. Sau bốn phiên trị liệu với cha mẹ, mà hai trong số đó có sự hiện diện của đứa trẻ, nhà trị liệu nhận thấy rằng, ngoài việc phải tiếp xúc với những xung đột sâu đậm giữa bố mẹ với nhau, đứa trẻ c̣n bị đẩy vào một t́nh trạng nhập nhằng nước đôi (double bind situation) mà nó không thể nào tự thoát ra được. Được các bác sĩ thần kinh xem là “có bệnh” rồi được sử dụng các loại thuốc an thần liều cao, đứa trẻ đă được chữa trị như một bệnh nhân tâm thần tại nhà và v́ thế “được phép” có những ứng xử theo một cách thức mà không cha mẹ nào có thể chấp nhận ở những đứa trẻ b́nh thường, chẳng hạn như đá vào mặt mẹ một cách ác ư khi bà cúi xuống cột dây giày cho trẻ, bất ngờ ném dao ăn hoặc đĩa súp vào quần áo của mẹ. Ngược lại, mỗi khi trẻ ứng xử như một trẻ b́nh thường cùng tuổi th́ nó lại phải lắng nghe những lời thuyết giáo hoặc chê trách về những lỗi lầm mà nó đă phạm trước đó. Nhà trị liệu nhanh chóng nhận ra rằng việc trước tiên phải làm là loại bỏ t́nh trạng nhập nhằng nước đôi ấy, bằng cách phá vỡ sự kết tội của cha mẹ rằng con họ “có bệnh tâm trí”. Nhưng họ cũng nhận ra rằng họ không thể nhận được kết quả này thông qua giải thích bằng lời, những giải thích mà đến lúc nào đó cũng có thể bị mất hiệu lực. Thay vào đó, nhà trị liệu “kê đơn” một nghi thức gia đ́nh như sau: Vào buổi chiều cùng ngày hôm đó, sau bữa ăn, cả gia đ́nh gồm bố, mẹ, đứa trẻ, đứa em gái nhỏ và bà ngoại, lần lượt bước vào pḥng tắm, người bố mang ra tất cả thuốc men mà trẻ đang dùng rồi trịnh trọng tuyên bố những lời sau đây với đứa con trai:
Hôm nay chúng ta đă được nghe bác sĩ bảo rằng chúng ta phải ném tất cả số thuốc này đi bởi v́ con là người hoàn toàn khỏe mạnh. Con chỉ là một đứa trẻ nghịch ngợm mà thôi và đơn giản là cả nhà sẽ không chấp nhất ǵ về những việc làm vô nghĩa của con nữa.
Sau đó, người bố, với nghi thức trang trọng, trút bỏ những lọ thuốc, hết lọ này đến lọ khác, vào trong bồn rửa, miệng cứ lập đi lập lại câu “Con hoàn toàn khỏe mạnh”. Nghi thức này đă chứng tỏ được hiệu quả của nó (mặc dù người mẹ lo sợ đứa trẻ có thể sẽ giết bà được nếu như không có những viên thuốc an thần kia) đến mức hành vi gây hấn của đứa trẻ sau đó mất đi và cũng h́nh thành biện pháp ḥa giải cho những xung đột âm thầm lâu nay giữa hai bố mẹ (vào phiên trị liệu thứ mười).
Ví dụ thứ hai về nghi thức được nêu ra ở đây một lần nữa là với một gia đ́nh có người bệnh chán ăn nghiêm trọng. Bệnh nhân, tạm gọi tên là Nora, trong quá tŕnh làm trị liệu gia đ́nh, đă thực hiện hành vi tự sát đến mức phải vào viện để can thiệp hồi sức. Mưu toan tự sát cho thấy rằng những nhà trị liệu cho người nữ bệnh nhân đă phạm một sai lầm nghiêm trọng: Họ đă quá chú tâm đến gia đ́nh hạt nhân của cô đến mức bỏ qua một quy luật bí mật chi phối gia tộc này, một gia tộc rất gắn bó và có quyền lực, rằng trong đại gia đ́nh của Nora sẽ không được nói đến điều ǵ ngoại trừ những điều tốt đẹp về những thành viên trong gia tộc. Chỉ sau khi mưu toan tự sát bất thành của Nora, trong một phiên tâm kịch trị liệu, người chị của Nora mới t́nh cờ thốt ra lời b́nh về những khó khăn trong mối quan hệ giữa Nora với một trong số những người chị họ của ḿnh. Rơ ràng là người chị họ, được mẹ hậu thuẫn cùng với nỗi ganh ghét về vẻ ngoại h́nh xinh đẹp hiển nhiên của Nora, đă cư xử với Nora bằng tâm trạng vừa với sự cảm mến vừa với sự hiểm độc. Cả hai phía bố mẹ ngay tức th́ muốn hàn gắn lại những tổn thương này bằng lập đi lập lại việc nói về những tính chất tốt đẹp như thiên thần của cô chị họ, “một người chị thực sự của Nora của chúng tôi”. Điều này khiến cho Nora, trước đó chẳng hề nói ǵ với chúng tôi về cô chị họ, đă nói về bản thân cô trong suốt phần c̣n lại của phiên trị liệu. Cô rơ ràng đă trở nên không tin tưởng những cảm nhận của chính ḿnh: nếu cô chị họ mà có ác ư và xấu xa như thế th́ cũng là bởi v́ chính cô, Nora, đă là người đầy ác ư, xấu xa và hay ganh tỵ.
Trong cuộc họp sau phiên trị liệu, những nhà trị liệu đă quyết định giữ kín những hiểu biết mới của họ về những ǵ liên quan đến các bàn luận phù phiếm ấy. Thay vào đó, họ đă quyết định “kê đơn” một nghi thức như sau:
Vào thời điểm hai tuần trước phiên trị liệu kế tiếp, gia đ́nh sẽ tuần tự cách ngày làm một lần việc khóa cửa nhà ngay sau bữa ăn trưa và ngồi với nhau xung quanh bàn trong một giờ. Một chiếc đồng hồ được đặt ở giữa bàn, và mọi người, theo thứ tự tính theo tuổi, sẽ dành ra 15 phút để trút tâm sự về những cảm xúc và quan điểm của riêng ḿnh, đặc biệt là nói về những thành viên khác trong gia tộc. Trong lúc một người nào đó nói, những người khác không được ngắt lời, cứ để mặc những mâu thuẫn lại. Ngoài ra, những ǵ được nói tại bàn sẽ không được lập lại bên ngoài giờ đă định dành cho nghi thức ấy.
Cũng trong trường hợp này, nghi thức cũng đă chứng tỏ hiệu quả của nó đến nỗi quá tŕnh trị liệu có thể kết thúc sau tổng số 15 phiên trị liệu.
***
Giờ đây chúng tôi có thể giải thích một cách chính xác những ǵ được ngụ ư trong nghi thức gia đ́nh.
Từ quan điểm chính thức, nghi thức là một hoạt động, hoặc một loạt các hoạt động, kèm theo những thể thức phát ngôn thành lời và có sự tham gia của toàn thể gia đ́nh. Mọi nghi thức đều phải bao gồm nhiều bước theo quy định để được thực hiện ở đúng chỗ và đúng lúc.
Việc nghi thức hóa có thể mang hơi hướm của phép thuật hoặc tín ngưỡng tôn giáo, nhưng không hẳn là một sự bất tiện. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng ư tưởng về sự kê đơn một nghi thức bắt nguồn từ sự đề xuất của khoa phong tục học (ethology), đặc biệt là bởi những nghi thức quy phục giữa những cá thể đồng chủng (intraspecific submission rituals) mà mục đích duy nhất của chúng là nhằm truyền đi những thông điệp có tính xoa dịu, hàn gắn. Mục đích chính yếu ở đây là nhằm chữa trị cho người bệnh với sự giúp đỡ của một nhóm người tham gia vào một công việc chung đó là cùng nhau thực hiện một nghi thức.
Chúng tôi nhận thấy rằng việc tiến hành nghi thức bằng động tác thể chất th́ sẽ hữu hiệu trong việc tạo nên những thay đổi tích cực nhiều hơn bất cứ h́nh thức trao đổi bằng lời nào. Trở lại một trong số những ví dụ đă nêu của chúng tôi ở trên, nếu chúng tôi chỉ đơn thuần nói với cha mẹ rằng đứa con nhỏ của họ thực sự không có bệnh và họ đừng nên điều trị cho con như một người khiếm khuyết như thế, th́ có lẽ chúng tôi đă không bao giờ đạt được hiệu quả chữa trị nhanh chóng như thế. Nhưng bằng cách hợp nhất gia đ́nh lại trong một nghi thức được “kê đơn” một cách cẩn thận, đẩy đến cực điểm tính hủy hoại của những loại thuốc mà trẻ sử dụng, để nhắc đi nhắc lại tiếng khóc kể “Con hoàn toàn lành mạnh”, chúng tôi có thể tạo nên một động cơ tập thể mạnh mẽ và v́ thế h́nh thành một hệ thống quy chuẩn mới. Với ư nghĩa đó, nghi thức được cho là có tác dụng thuyết phục toàn thể nhóm phấn đấu hướng về một mục đích chung.
Liên quan đến việc này, tôi cũng phải nhấn mạnh đến việc sử dụng rộng răi các nghi thức trong nhiều xă hội hiện đại ngày nay. Những nghi thức này không bao gồm những phát ngôn hoặc khẩu hiệu mà người ta có thể bỏ ngoài tai một cách chọn lọc, nhưng chúng cố gắng tạo nên các ư tưởng về sự hợp tác trong xă hội cũng như trong gia đ́nh thông qua các hoạt động vui chơi, khiêu vũ và các sinh hoạt cộng đồng khác, thậm chí một cách nghịch lư là thông qua rất nhiều loại h́nh tranh tài thể thao khác nhau.
Việc “phát minh” ra một nghi thức gia đ́nh luôn luôn đ̣i hỏi một cố gắng sáng tạo to lớn từ phía nhà trị liệu, và thường là, nếu có thể nói rằng, một “sự lóe sáng của thiên tài” (flashes of genius), bởi nếu chỉ v́ một nghi thức đă được chứng minh rằng nó có hiệu quả trong trường hợp một gia đ́nh này th́ điều đó vẫn không đủ để chứng minh rằng nó sẽ có hiệu quả tương tự đối với một gia đ́nh khác. Sở dĩ như thế là do mỗi gia đ́nh có những quy luật riêng biệt và những “tṛ chơi” riêng biệt. Đặc biệt nghi thức không phải là một kiểu “siêu giao tiếp” (metacommunication) của những quy luật này, hăy cứ để mặc nó cho những tṛ chơi như thế; đúng hơn nghi thức chính là một kiểu “tṛ chơi đối lập” (countergame) mà một khi được chơi nó có tác dụng phá hủy kiểu chơi ban đầu. Nói cách khác, nó dẫn đến việc thay thế những “lễ nghi” không lành mạnh và sai lầm về nhận thức luận (ví dụ triệu chứng chán ăn) bằng những lễ nghi lành mạnh hơn, hợp lư hơn về nhận thức luận.
Tôi tuyệt đối tin rằng những “triệu chứng” tâm thần được phát sinh từ những hệ thống có sự điều ḥa thăng bằng nội tại theo kiểu cứng nhắc (rigid homeostatic systems) và chúng là cuộc “chiến tranh lạnh” được tiến hành bởi một tiểu hệ thống nào đó (chẳng hạn bởi những liên minh kết bè phái giữa một phụ huynh và một đứa con) mà biểu hiện càng mạnh mẽ th́ sự bí mật bên trong càng nhiều. Chúng tôi biết rằng những hệ thống bệnh lư như thế được vận hành bởi những quy luật bí mật thường là bị ẩn giấu (Nguyên văn: “shun the light of the day”: Tránh xa ánh sáng ban ngày) và chúng gắn kết gia đ́nh lại với nhau bằng những mối liên kết bệnh lư.
Nói cách khác, những triệu chứng tâm thần có khuynh hướng phát triển trong những hệ thống gia đ́nh đang bị đe dọa tan vỡ; trong những hệ thống như thế các triệu chứng góp phần thực hiện vai tṛ như những “nghi lễ quy phục” (submission rites) thường thấy trong thế giới động vật: chúng giúp tránh được các hành vi gây hấn từ chính đồng loại của ḿnh. Chỉ duy có một sự khác biệt bi thảm này thôi: các lễ nghi tương tự như thế ở loài người được gọi là “bệnh”, chúng đảm nhận những chức năng quy chuẩn từ chính sự loạn năng đặc biệt mà chúng đang cố gắng loại trừ.
|
|
|
Địa chỉ liên hệ:
|
||