V̀ MỤC ĐÍCH PHÁT TRIỂN CHUYÊN NGÀNH TÂM LƯ TRỊ LIỆU TẠI VIỆT NAM

 

GIỚI THIỆU

Tác giả
Giới thiệu website
Chi hội Trăng Non
Liên hệ với chúng tôi


THÔNG TIN MỚI


Dành cho thân chỦ

Thư gửi quư độc giả 
Câu hỏi thường gặp 
Dịch vụ hỗ trợ


BÀI VIẾT

Chuyên đề
Nhật kư pḥng trị liệu
Đọc Web giùm bạn


GIÁO TR̀NH - TÀI LIỆU

Đề cương

Học phần đại cương
Học phần nâng cao
Đào tạo thực hành
Giám sát – Chia sẻ kinh nghiệm

Tài liệu

Bài giảng tâm lư trị liệu
Bài tập thực hành
Tâm bệnh
Chân dung Nhà trị liệu
Liên kết ngoài
Tài liệu tham khảo

 


 

  

 

www.tamlytrilieu.com

 

 

 

TR̉ CHƠI TRÊN CÁT – SANDPLAY

 BS NGUYỄN MINH TIẾN Tổng hợp

 

 

TÊN GỌI VÀ LỊCH SỬ H̀NH THÀNH LIỆU PHÁP

 

Tṛ chơi trên cát là một loại công cụ sử dụng trong chơi trị liệu (play therapy) – một h́nh thức tâm lư trị liệu cho trẻ nhỏ có vấn đề tâm lư, đôi khi có thể áp dụng cho cả trẻ lớn, vị thành niên, cá nhân người lớn hoặc cả gia đ́nh. Những h́nh mẫu thu nhỏ (miniatures), tượng trưng cho những con người, thú vật, hoặc sự vật thông thường có thật trong thực tế, sẽ được sử dụng để tạo nên những bối cảnh và nội dung chơi trên bề mặt của cát. Tên thông dụng trong tiếng Anh chỉ cách làm này là sandplay (tṛ chơi trên cát) hoặc sandtray therapy (liệu pháp chơi trên khay cát), hoặc như cách gọi tên của Magaret Lowensfeld (tác giả của phương pháp) là World Technique (Kỹ thuật Thị hiện Thế giới). Phép tiếp cận này được sử dụng trong một bối cảnh có tính nghi thức, có sự chuyển tiếp hoặc như một phương pháp chữa lành các sang chấn, đau khổ về tinh thần. Trong bài này để đơn giản chúng tôi sẽ gọi tên phương pháp là “Tṛ chơi trên cát” khi gọi với ư nghĩa chung và “liệu pháp khay cát” khi phương pháp được áp dụng trong bối cảnh trị liệu tâm lư.

 

Liệu pháp khay cát được phảt triển nên bởi bác sĩ Magaret Lowensfeld trong thập niên 1920 do bà đă cảm hứng khi đọc Floorgames (Tṛ chơi trên sàn nhà) của H.G. Wells (1906), và được áp dụng tại Trung tâm Trị liệu Tṛ chơi tại Luân Đôn, Anh quốc. Wells và các con trai của ḿnh đă cùng chơi những tṛ chơi trên sàn nhà; họ chọn lấy đồ chơi là những h́nh mẫu thu nhỏ để bày ra những cảnh chơi đầy kịch tính trên sàn nhà của một căn pḥng sau khi đă dọn sạch các vật dụng khác. Những tṛ chơi này đă cho phép gia đ́nh của Wells có được một phương tiện để khám phá về một thế giới sau chiến tranh. Và Wells cũng đă khuyến cáo các nhà chính trị, những lănh đạo các quốc gia và cả trẻ em nên tham gia vào một tiến tŕnh chơi như thế.

 

Lowensfeld, cũng giống như Freud, Klein và Winnicott, hiểu rằng trẻ em cần có những loại công cụ khác không phải ngôn ngữ để có thể giao tiếp và có thể tạo nên ư nghĩa cho những trải nghiệm của ḿnh. Bà cũng nhận ra hoạt động chơi có khả năng giúp chuyển biến và tổng hợp lại những thế giới quan c̣n hạn chế của trẻ. Bằng sự thông thái của ḿnh, bà đă không chỉ đưa thêm vào khay đựng những nội dung chơi mà c̣n cho cả cát và nước vào để cho phép đứa trẻ giải bày ra những trạng thái sinh học và siêu h́nh rất phức tạp. Bộ công cụ này nhằm giúp trẻ cảm nhận được các trải nghiệm của ḿnh chứ không giúp gia tăng khả năng diễn giải của nhà trị liệu về thực tại của đứa trẻ.

 

Những thân chủ trẻ con của Lowensfeld đă sử dụng các vật liệu chơi này một cách hết sức nhiệt t́nh. Bộ công cụ cũng có những tính chất rất hấp dẫn, đa năng và đa chiều kích. Và đặc biệt là nó không cần đến bất cứ kỹ năng đặc biệt nào. Thật vậy đă có một đứa trẻ gọi đó là “Cả thế giới để vui chơi” – điều này khiến bà đôi khi gọi đó là “Tṛ chơi Thế giới” (Worldplay; hay tiếng Đức là Weltspiel), đó cũng là tiền thân cho các tên gọi World Apparatus hoặc Lowensfeld World Technique về sau.

 

Nhiều thập niên trôi qua kể từ ngày Lowensfeld đưa kỹ thuật làm việc này vào Trung tâm trị liệu của bà, các giáo viên, những nhà tư vấn và nhà nghiên cứu thuộc nhiều trường phái lư thuyết khác nhau đă cung cấp bộ công cụ này cho những đối tượng mà họ làm việc. Theo thời gian, tṛ chơi trên cát đă được sử dụng để giúp con người kết nối và trở nên quan tâm hơn đến thực tại cá nhân và liên cá nhân trong đời sống con người. Những nhà thực hành đă sử dụng nó để gia tăng khả năng của ư thức, khả năng tự b́nh phục, giảng dạy, học tập, sáng tạo, giao tiếp và những mối quan hệ lành mạnh giữa con người với nhau.

 

Do bởi khay cát là công cụ có tính chất rất hữu hiệu và thú vị, nhiều tác giả đă phát kiến nên những tên gọi riêng cho phương pháp của ḿnh nhằm mô tả những cách thức tiếp cận cuộc chơi trên khay cát; mỗi cách gọi tên thể hiện cách thức thực hiện cũng như quan điểm riêng của từng tác giả về những tiến tŕnh xảy ra trong khay cát.

 

Liệu pháp khay cát nay đă vươn xa ra khỏi phạm vi tham vấn và trị liệu tâm lư; nó được áp dụng trong giáo dục, trong những hành tŕnh t́m kiếm về mặt tinh thần, trong công việc, cũng như bất cứ hoàn cảnh nào mà những người có nguồn gốc xuất thân và văn hóa khác nhau muốn hiểu biết lẫn nhau trong thâm sâu con người của ḿnh.

 

Cách gọi tên phương pháp cũng là cách thức đặc biệt gợi lên những câu chuyện kể hoặc những thực tại có tính chuyên biệt. Trong một nghiên cứu về tṛ chơi trên cát tại Úc, một đứa bé trai 12 tuổi đă gọi tên phương pháp của Lowensfeld là “bức tranh cát” (sand picture) hoặc “tranh vẽ các ư nghĩ” (thinking picture). Đứa trẻ nói: “Cháu đă nói rất nhiều về mọi việc đă xảy ra, nhưng ở đây cháu im lặng, cháu bận suy nghĩ. Suy nghĩ là một người anh em khó tính. Không ai có thể nghe được bạn, nhưng ở đây, bức tranh trên cát là một thứ suy nghĩ, và người ta có thể nghe thấy nó lên tiếng”.

 

LIỆU PHÁP KHAY CÁT THEO TRƯỜNG PHÁI NHÂN VĂN – HUMANISTIC SANDTRAY THERAPY

 

Liệu pháp khay cát là một h́nh thức tâm lư trị liệu có tính năng động và diễn đạt, giúp cho thân chủ có thể giải bày thế giới nội tâm của họ thông qua các biểu tượng và h́nh ảnh ẩn dụ. Liệu pháp khay cát theo trường phái nhân văn nhấn mạnh đến việc h́nh thành một mối quan hệ trị liệu sâu sắc và có tính chấp nhận, cùng với một cách tiếp cận xử lư nội dung trong khay cát chủ yếu dựa trên những trải nghiệm của thân chủ tại đây và ngay lúc này (here-and-now).

 

Quan điểm nhân văn tin rằng khi con người tăng trưởng và phát triển ở lứa tuổi trẻ em và vị thành niên, họ sẽ có thể bị mất đi mối liên lạc với chính con người mà ḿnh đang là. Họ có thể đă học cách chấp nhận một số cảm xúc nào đó và không chấp nhận những cảm xúc khác. Trong tiến tŕnh chối bỏ những ǵ thuộc về con người thật của ḿnh, họ có thể trở nên mất liên lạc với bản ngă thực sự của chính ḿnh. Liệu pháp khay cát theo trường phái nhân văn mang đến những trải nghiệm về sự tái kết nối của con người với bản ngă chân thực của ḿnh và giúp con người trở lại khám phá các ước mơ, hy vọng và tầm nh́n của ḿnh.

 

Giống như liệu pháp chơi (play therapy) ở trẻ nhỏ, liệu pháp khay cát mang lại một trải nghiệm có tính chủ động, không lời, gián tiếp và mang tính biểu tượng. Giai đoạn tạo cảnh (scene creation phase), trong đó thân chủ sắp đặt các h́nh mẫu thu nhỏ vào trong khay cát, là một giai đoạn rất quan trọng và cũng là giai đoạn trung tâm đạt đến các trải nghiệm từ khay cát. Trong liệu pháp khay cát theo trường phái nhân văn, giai đoạn xử lư (processing phase) sẽ mang lại thêm những trải nghiệm vốn đă h́nh thành trong giai đoạn tạo cảnh và cho phép suy xét lại trải nghiệm ấy. Thông qua giai đoạn xử lư, thân chủ có thể nh́n lại bối cảnh trong khay và trải nghiệm về tác động của nó.

 

Tất cả các thành phần như khay cát, những h́nh mẫu thu nhỏ, không gian an toàn trong khay cát, những lời nói sử dụng trong khi chơi trên cát và cả công việc trong giai đoạn xử lư đều có tầm quan trọng trong việc tạo nên hiệu quả trị liệu.

 

TẠI SAO SỬ DỤNG KHAY CÁT?

 

Khay cát là một loại công cụ sử dụng cho các hoạt động nghệ thuật mang tính giải bày, diễn đạt. Những ǵ mà khay cát mang lại bao gồm:

 

  1. Một môi trường được cấu trúc tốt qua đó những h́nh ảnh ẩn dụ của thân chủ sẽ được tạo lập và được khám phá.

  2. Một sự tŕnh bày bằng cách hiển thị các vấn đề của thân chủ để quá tŕnh làm việc giữa nhà trị liệu và thân chủ có thể tập trung vào những chủ đề cốt lơi trong suốt phiên trị liệu. Thân chủ có thể nh́n đi nh́n lại những biểu tượng trong quang cảnh mà ḿnh đă tạo dựng, ngay cả khi họ đă khám phá chúng và từ đó thực hiện những sự hướng dẫn từ bên ngoài trở về vấn đề của họ.

  3. Một trải nghiệm sâu sắc đối với thân chủ. Thân chủ thường ngày hay tránh né sự trải nghiệm đầy đủ về những cảm xúc của ḿnh. Khay cát có thể tạo điều kiện cho thân chủ đi sâu khám phá bản ngă của họ.

  4. Một phương tiện gián tiếp giúp thúc đẩy các hoạt động có tính trị liệu cho những thân chủ bị bế tắc. Khi thân chủ xem xét các h́nh ảnh ẩn dụ của họ tạo nên, họ có thể vượt qua các phản ứng pḥng vệ và hóa giải các phản kháng.

 

Liệu pháp khay cát có thể được sử dụng cho trẻ em từ 8 tuổi trở lên, vị thành niên và cả người lớn. Giống như liệu pháp chơi, thân chủ được trị liệu với khay cát cũng thể hiện bản thân theo cách ẩn dụ. Mặc dù trong giai đoạn xử lư, nhà trị liệu sử dụng lời nói nhiều hơn trong liệu pháp chơi dành cho trẻ nhỏ, việc sử dụng và xử lư h́nh ảnh ẩn dụ cũng tương tự như trong liệu pháp chơi.

 

Nhà trị liệu trường phái nhân văn xem thân chủ là những người có khả năng tự hiện thực hóa bản thân và vốn có sẵn khuynh hướng phát huy tiềm năng của ḿnh. Họ có thể tự nhận biết bản thân ḿnh và chịu trách nhiệm về những lựa chọn của ḿnh. Con người là sinh vật có tính xă hội và có nhu cầu mạnh mẽ muốn kết nối với người khác. Trong liệu pháp nhân văn, mối quan hệ trị liệu là nguồn lực nền tảng tạo nên những thay đổi có tính xây dựng ở thân chủ (Cain, 2002). Mục đích cơ bản của mối quan hệ trị liệu là tạo nên một bầu khí tối ưu thuận lợi cho sự tăng trưởng xảy ra. Rogers đă viết: “Hầu hết trẻ em, nếu được sống trong một môi trường b́nh thường đáp ứng phù hợp với những nhu cầu về cảm xúc, trí tuệ và xă hội của trẻ, đều có khuynh hướng đạt đến sự lành mạnh để đáp ứng và thích nghi với đời sống” (Kirschenbaum, 1979).

 

Khi nhà trị liệu gặp thân chủ, dù là trẻ em hay người lớn, họ thậm chí c̣n cần nhiều hơn một “môi trường b́nh thường phù hợp” như thế, bởi v́ họ đă không thể có được ḷng tin của một trẻ nhỏ. V́ vậy, việc thiết lập một bầu khí tối ưu cho tăng trưởng là điều tuyệt đối quan trọng. Mối quan hệ trị liệu là trung tâm của bầu khí này, và khả năng tự nhận biết bản thân cùng với kỹ năng của nhà trị liệu có thể tạo nên bầu khí này và làm chất xúc tác cho sự tăng trưởng nơi thân chủ.

 

Trong liệu pháp khay cát, nhà trị liệu tạo lập một không gian an toàn và có tính chấp nhận để thân chủ có thể đối diện với các chủ đề cốt lơi của họ. Giống như trong liệu pháp chơi, bản chất mang tính ẩn dụ của khay cát giúp tạo nên một khoảng cách an toàn để thân chủ có thể giải bày những cảm xúc đau khổ của họ. Khay cát cho phép thân chủ bộc lộ bản thân họ dưới h́nh thức những biểu tượng không lời, đồng thời tạo nên một sản phẩm phóng chiếu có tính thị hiện những thực tại chủ quan trong nội tâm cũng như trong các mối quan hệ của thân chủ.

 

KHAY CÁT – MỤC ĐÍCH VÀ THỜI LƯỢNG LÀM VIỆC

 

Chỉ sử dụng khay cát khi thân chủ đă có được ḷng tin khá sâu sắc với nhà trị liệu. Không thực hiện liệu pháp khi thân chủ vẫn c̣n lưỡng lự. Homeyer Sweeney (1998) cho rằng khay cát nên được sử dụng một cách có mục đích và có dự định. Nhà trị liệu nên tŕnh bày rơ những mục đích và thời lượng sử dụng khay cát trên từng thân chủ cụ thể. Hai tác giả này đề nghị sử dụng khay cát như cách thức để thay đổi bước đi trong làm việc với thân chủ, như một cách thức để tiếp thêm sức mạnh cho tiến tŕnh trị liệu hoặc đưa việc trị liệu đến các tầng mức can thiệp sâu xa hơn. Khuyến cáo này cũng phù hợp với điều đă nêu ở phần trên: khay cát có hiệu quả khi làm việc với những thân chủ bị bế tắc.

 

GIAI ĐOẠN TẠO CẢNH

 

Homeyer Sweeney (1998) thường cho thân chủ một câu mào đầu trước khi bước vào giai đoạn tạo cảnh như “Bạn hăy tạo một quang cảnh về đời sống của bạn như nó đang có trong hiện tại. Bạn cũng có thể sử dụng những h́nh ảnh trong quá khứ cũng như tương lai nhưng hăy trung thực với chính bạn về cuộc sống của bạn vào lúc này”.

 

Trong giai đoạn tạo cảnh, nhà trị liệu cần phải đặt ḿnh trong hiện tại càng nhiều càng tốt nhưng họ không nói ǵ đặc hiệu cả. Điều quan trọng đối với thân chủ là phải có được một trải nghiệm bên trong về sự kết nối với các h́nh mẫu thu nhỏ và lựa chọn cái nào trong số đó để tạo cảnh. Nhà trị liệu không làm gián đoạn tiến tŕnh bên trong này nhưng cần phải làm cho thân chủ biết rằng nhà trị liệu đang ở cùng thân chủ trong lúc họ trải nghiệm những phút giây thực hiện việc tạo cảnh.

 

Điều thú vị là một số nhà trị liệu khay cát tin rằng tiến tŕnh b́nh phục trong liệu pháp khay cát chỉ xảy ra trong giai đoạn tạo cảnh. V́ thế, các nhà trị liệu này không đi qua giai đoạn xử lư. Một số nhà trị liệu khác lại sử dụng những cảnh quan trên khay cát làm chủ đề khởi điểm cho các tương tác bằng lời. Việc xử lư các nội dung trong khay cát bằng lời nói có thể giúp khai triển và mở rộng những việc đang diễn biến trong nội tâm thân chủ mà những việc này đă bắt đầu trong giai đoạn tạo cảnh.

 

Giai đoạn tạo cảnh sẽ giúp h́nh thành nên sắc thái cho quá tŕnh thân chủ tự thăm ḍ và khám phá bản thân khi họ nh́n vào những h́nh mẫu thu nhỏ và t́m thấy những mối liên hệ với chúng. Một số thân chủ cảm thấy lạc lối khi t́m cách sắp xếp các h́nh mẫu thu nhỏ đúng theo ư ḿnh muốn. Nếu giai đoạn tạo cảnh được trải nghiệm một cách có ư nghĩa đối với thân chủ, nếu thân chủ nh́n vào và suy nghĩ về những khía cạnh trong đời sống mà họ thường không chú ư đến, khi đó giai đoạn xử lư đă bắt đầu bên trong nội tâm của họ. Việc chuyển sang giai đoạn xử lư bằng lời sẽ trở nên tự nhiên hơn rất nhiều khi thân chủ cho phép bản thân họ trải nghiệm giai đoạn tạo cảnh.

 

GIAI ĐOẠN XỬ LƯ

 

Một cách điển h́nh, nhà trị liệu sẽ bắt đầu giai đoạn xử lư bằng cách nói với thân chủ: “Hăy nói về quang cảnh mà bạn đă tạo nên”. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể bắt đầu khi thân chủ cảm nhận được một điều ǵ đó ngay trong giai đoạn tạo cảnh. Nhà trị liệu có thể nói: “Bạn trông có vẻ rất buồn. Bạn đang chú ư điều ǵ vào lúc này?” Khái niệm về việc hiện diện cùng thân chủ trong từng khoảnh khắc là khái niệm trung tâm trong cách tiếp cận nhân văn ở giai đoạn xử lư. Cách tiếp cận nhân văn tập trung vào việc khám phá chứ không làm kỹ thuật diễn giải. Tiến tŕnh khám phá là một trải nghiệm sâu sắc. Hầu hết những ǵ nhà trị liệu thực hiện trong giai đoạn xử lư là tạo thuận lợi cho tiến tŕnh khám phá và hiểu biết bản thân của thân chủ. Theo luận điểm của Rogers, những đáp ứng có tính trị liệu và có hiệu lực mạnh mẽ nhất là những đáp ứng nhằm giúp thân chủ vươn xa hơn mức độ hiểu biết về bản thân mà họ có trước đó.

 

TIẾN VÀO NHỮNG CẢM XÚC SÂU LẮNG HƠN

 

Nhiều người có thể tự hỏi liệu việc đi sâu khám phá bản thân có giá trị ǵ chăng? Tại sao việc đi sâu vào các trải nghiệm lại có tính trị liệu? Việc trải nghiệm đầy đủ một cảm xúc có giá trị ǵ?

 

Trong thực tế, việc cho phép bản thân trải nghiệm một cách đầy đủ những cảm xúc của chính ḿnh sẽ mang lại cho người đó nhiều phần tưởng thưởng. Trước tiên, sẽ là một phần thưởng vô giá khi một người cảm thấy “ḥa b́nh với những vấn đề của chính ḿnh”; “Liệu có cần xây bức tường ngăn cách với những trải nghiệm của ta hay ta có thể trông cậy vào chúng?”; “Làm thế nào để ta có thể hài ḷng với những trải nghiệm của chính ta?”...

 

Điều lợi thứ hai có liên quan đến một quy luật tự nhiên mà chúng ta đang khám phá: để có thể khơi thông được một trải nghiệm cảm xúc, ta cần phải trải nghiệm nó một cách đầy đủ. Rogers (1989) lưu ư rằng một khi những cảm xúc gây phiền nhiễu được cảm nhận đến độ sâu đầy đủ nhất của chúng th́ người ta có thể đi tới. Đây chính là phần rất quan trọng trong tiến tŕnh thay đổi.

 

Hăy tưởng tượng một nữ thân chủ đang tranh đấu với cuộc hôn nhân của cô ấy. Nhà trị liệu yêu cầu cô hăy tạo dựng một quang cảnh trên khay cát. Trong cảnh ấy, cô đặt một h́nh mẫu tượng trưng cho chồng ở một đầu khay cát; một h́nh mẫu tượng trưng cho cô ở đầu kia. Khi xử lư quang cảnh, cô nói “Tôi không c̣n yêu chồng tôi, nhưng tôi sợ rời xa anh ấy”. Những nhà trị liệu thường làm việc về chủ đề hôn nhân và gia đ́nh vẫn thường nghe những câu nói đại loại như thế; kiểu phát biểu như thế được gọi là sự phân cực đối lập (polarity) trong trải nghiệm của thân chủ.

 

Nhà trị liệu khi ấy có thể nghĩ đến các chọn lựa trong cách thức đáp ứng với thân chủ trong khi vẫn phải chú tâm nghiêm túc đến sự phân cực trong phát biểu của thân chủ. Nhà trị liệu có thể hỏi “Ngay lúc này đây, bạn nhận biết rơ hơn phần nào trong câu nói vừa rồi: phần chứa ư bạn không yêu chồng nữa hay là phần chứa ư bạn sợ rời xa anh ấy?” Nếu thân chủ trả lời cô ấy nhận biết rơ hơn về điều ḿnh sợ rời xa chồng, nhà trị liệu sẽ hỏi “Bạn có cảm nhận nỗi sợ ấy ngay lúc này?” Nếu cô đáp là có, nhà trị liệu sẽ giúp thân chủ đi sâu hơn bằng cách “Vậy nỗi sợ đó như thế nào? Bạn hăy mô tả nó xem”.

 

Nhà trị liệu đôi khi đánh giá không đầy đủ về những nỗi sợ và sự phản kháng của thân chủ. Ở mỗi thân chủ đều cùng hiện diện một lúc sự mong muốn thay đổi và nỗi sợ xảy ra thay đổi. Trong thực tế, ở mỗi con người đều tồn tại t́nh trạng phân cực đối lập như vậy. Những quang cảnh trong khay cát thường phác họa nên những trạng thái phân cực đối lập này hoặc hai khuynh hướng, hai thành phần, hai mong muốn tương phản với nhau. Hầu như ít có khay cát nào không chứa những điều tương phản như thế. Một cách điển h́nh, những h́nh mẫu thu nhỏ thường được sắp xếp một cách cẩn thận thành từng cụm ở trong các góc hoặc trên một khu vực nào đó của khay cát. Bất cứ khi nào thân chủ sử dụng đến những vách ngăn hoặc rào chắn th́ thường có nghĩa là sự phân cực đă xuất hiện.

 

Trong liệu pháp khay cát, làm việc trên những điều phân cực theo cách như thế giúp thân chủ và nhà trị liệu “bảo tồn rất nhiều năng lượng”. Nếu thân chủ chưa sẵn sàng trải nghiệm đi sâu vào một cảm xúc đau thương, nhà trị liệu cần phải thừa nhận điều này và làm việc với thân chủ trên nỗi sợ thay v́ là trên nỗi đau. Khi đó, thân chủ sẽ không kháng cự lại việc trị liệu và nhà trị liệu không cảm thấy ḿnh đang lội ngược ḍng. Khi một thân chủ chưa sẵn sàng, điều cần thiết là phải làm việc với thân chủ tại ngay nơi người đó đang đứng hơn là thúc đẩy người đó đi tới nơi họ cần đến.

 

 


 
 

Địa chỉ liên hệ:
Trụ sở Chi Hội Trăng Non, 29 Phan Xích Long, P.3, Phú Nhuận, Tp.HCM  
Điện thoại: 0908 33 0908
Gửi Email cho chúng tôi: dr_ngmtien@live.com hoặc trangnonclb@yahoo.com